Skip Ribbon Commands
Skip to main content
Sign In

Huyện Lục Ngạn: Kết quả giảm nghèo đối với 13 xã có tỷ lệ hộ nghèo trên 50%

24/06/2016

Lục Ngạn là huyện miền núi của tỉnh Bắc Giang, có dân số đông, số đơn vị hành chính nhiều nhất tỉnh (29 xã và 01 thị trấn), điểm xuất phát thấp, trình độ dân trí không đồng đều, địa hình bị chia cắt thành 2 vùng rõ rệt, vùng cao, vùng khó khăn giao thông không thuận tiện, điều kiện kinh tế - xã hội còn rất nhiều khó khăn. Tại thời điểm tháng 8/2009, Lục Ngạn còn 13 xã có tỷ lệ hộ nghèo trên 50% là Cấm Sơn, Tân Sơn, Sơn Hải, Hộ Đáp, Phong Vân, Phong Minh, Sa Lý, Kim Sơn, Phú Nhuận, Đèo Gia, Đồng Cốc, Biên Sơn và Tân Mộc. Một đặc điểm chung của 13 xã là tổng diện tích đất tự nhiên lớn (60.550 ha, chiếm 59,93% tổng diện tích toàn huyện), nhưng diện tích sản xuất nông nghiệp thấp (10.330 ha, chiếm tỷ lệ 17%), còn lại chủ yếu là đất lâm nghiệp; đồng bào dân tộc thiểu số đông, chiếm trên 76% dân số; tỷ lệ hộ nghèo bình quân chung của 13 xã là 58,8% và chiếm 59,02% tổng số hộ nghèo toàn huyện.

Đẩy nhanh tiến độ thực hiện xóa đói, giảm  nghèo tại 13 xã trên là nhiệm vụ cấp thiết đòi hỏi sự vào cuộc của cấp ủy, chính quyền các cấp. Từ yêu cầu trên,  UBND huyện Lục Ngạn đã nghiên cứu, xây dựng Đề án hỗ trợ giảm nghèo đối với 13 xã có tỷ lệ hộ nghèo trên 50% giai đoạn 2010 – 2015 (gọi tắt là Đề án 13 xã nghèo) và được HĐND tỉnh Bắc Giang đồng ý cho triển khai thực hiện với 03 nội dung gồm: Hỗ trợ xây dựng các công trình thủy lợi nhỏ; Hỗ trợ sản xuất; Tăng cường cán bộ kỹ thuật cho cơ sở.

 Kết quả thực hiện đề án đã đem lại hiệu quả thiết thực trong phát triển kinh  tế - xã hội trên địa bàn. Trước khi thực hiện đề án, diện tích đất canh tác nông, lâm nghiệp chủ yếu phụ thuộc vào tự nhiên; trên địa bàn 13 xã chỉ có 19,7% diện tích đất lúa 2 vụ, đất trồng cây ăn quả và hoa màu chủ động được nguồn nước tưới dẫn đến năng suất thấp. Với 42 công trình thủy lợi nhỏ được đầu tư xây dựng mới đã đảm bảo nước tưới cho hầu hết diện tích đất sản xuất của 13 xã. Do chủ động được nguồn nước tưới nên năng suất lúa ổn định, các loại rau, màu, cây ăn quả cho sản lượng ổn định đã tăng đáng kể thu nhập của người dân góp phần ổn định đời sống cho nhân dân, đẩy nhanh tốc độ giảm nghèo của 13 xã.

Với nguồn vốn hỗ trợ từ đề án, đã có 8.644 lượt hộ nghèo thuộc 13 xã được hỗ trợ các giống vật nuôi như: Bò sinh sản, lợn nái Móng Cái, lợn lai F1, gà Mía lai, ngan Pháp, vịt siêu trứng... cùng với sự trợ giúp, hướng dẫn về kỹ thuật của đội ngũ cán bộ được tăng cường đã giúp các hộ dân từng bước chuyểndịch cơcấu cây trồng, vật nuôi theo hướng sản xuất hàng hoá, thay đổi tập quán sản xuất nhỏ lẻ, nâng cao thu nhập, bướcđầu phát huy hiệu quả xoá đói giảm nghèo.

Đánh giá sau 5 năm thực hiện, có thể khẳng định công tác giảm nghèo tại 13 xã thuộc đề án đã đạt được những kết quả tích cực; bộ mặt kinh tế - xã hội, đời sống nhân dân tại các xã được cải thiện đáng kể; nhiều hộ đã vươn lên thoát nghèo và trở thành hộ khá giả có thu nhập cao. Tỷ lệ hộ nghèo tại 13 xã giảm nhanh qua hàng năm; tại thời điểm 01/10/2010, số hộ nghèo của 13 xã là 10.910 hộ, chiếm tỷ lệ 81,38%, đến năm 2015, số hộ nghèo giảm xuống còn 5.030 hộ, chiếm tỷ lệ 34,37%, (giảm 5.880 hộ, tỷ lệ giảm 47,01% so với năm 2010); mức giảm bình quân 8,17%/ năm. Đã có11/13 xã có tỷ lệ hộ nghèo giảm xuống dưới 50%, hiện còn 02 xã có tỷ lệ hộ nghèo trên 50% (Theo chuẩn nghèo quy định tại QĐ 09/2011/QĐ-TTg ngày 30/01/2011 của Chính phủ). Nhận thức của cán bộ và nhân dân đã có chuyển biến tích cực;  năm 2014, lần đầu tiên trong toàn huyện có 30 hộ tự nguyện xin thoát khỏi hộ nghèo, hộ cận nghèo, trong đó có 19 hộ thuộc 13 xã xin ra khỏi hộ nghèo, hộ cận nghèo. 

Tuy nhiên, nhìn lại kết quả sau 5 năm thực hiện đề án cho thấy nổi nên một số khó khăn là: Kết quả giảm nghèo chưa bền vững, mặc dù đã giảm nhiều song tỷ lệ hộ nghèo tại 13 xã vẫn còn cao so với bình quân chung của huyện (34,37% so với 15,01%) và cao hơn nhiều so với bình quân chung của tỉnh (34,37% so với 7,41%). Số hộ tái nghèo và phát sinh nghèo mới hàng năm vẫn còn. Công tác xây dựng kế hoạch, quản lý, giám sát thực hiện đề án trên địa bàn ở một số xã chưa tốt dẫn đến hiệu quả còn thấp; phương thức hỗ trợ còn dàn trải, nhỏ lẻ. Trình độ, năng lực và tinh thần trách nhiệm của một bộ phận cán bộ làm công tác giảm nghèo ở cơ sở còn hạn chế chưa đáp ứng được yêu cầu; việc tiếp thu và áp dụng tiến bộ khoa học kĩ thuật trong sản xuất của người dân nhìn chung còn hạn chế, dẫn đến năng suất cây trồng, vật nuôi thấp. Mặt khác, một bộ phận người dân còn nặng tư tưởng trông chờ, ỷ lại vào sự hỗ trợ của nhà nước mà thiếu ý thức vươn lên tự thoát nghèo làm ảnh hưởng đến tiến độ giảm nghèo...

Để phát huy hiệu quả thực hiện công tác giảm nghèo bền vững, trong thời gian tới, huyện cần tập trung làm tốt một số nhiệm vụ trọng tâm là: Công tác xóa đói, giảm nghèo phải được các cấp ủy Đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, các ngành, đoàn thể từ huyện đến cơ sở xác định là nhiệm vụ trọng tâm, quan trọng trong Chương trình phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Phải tích cực làm tốt công tác tuyên truyền, vận động nhằm nâng cao nhận thức của người dân, họ phải chủ động tự lực vươn lên thoát nghèo là chính; chống tư tưởng trông chờ ỷ lại vào sự hỗ trợ của nhà nước, có hình thức biểu dương, khích lệ những hộ tự xin ra khỏi hộ nghèo nhằm tạo được sự đồng thuận và quyết tâm cao của cả hệ thống chính trị và mọi người dân trong thực hiện nhiệm vụ xoá đói, giảm nghèo.Ưu tiên, quan tâm hỗ trợ trước đối với gia đình người có công với cách mạng, các hộ nghèo thuộc diện “yếu thế” như đối tượng bảo trợ xã hội và các đối tượng chính sách xã hội khác. Tăng cường công tác đào tạo nghề gắn với giải quyết việc làm, tạo việc làm mới cho người lao động thuộc hộ nghèo…Bên cạnh đó, huyện tập trung chỉ đạo lồng ghép có hiệu quả các chương trình, dự án hỗ trợ người nghèo, tạo điều kiện cho người nghèo tiếp cận các dịch vụ hỗ trợ như tập huấn kỹ thuật, vay vốn ưu đãi, học nghề, tạo việc làm…

Xem