Skip Ribbon Commands
Skip to main content
Sign In

Sơn La: 6 tháng đầu năm giải quyết việc làm cho 9.805 lao động

23/06/2021

 Được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh; sự phối hợp chặt chẽ của các ngành chức năng, các tổ chức chính trị - xã hội, UBND các huyện, thành phố trong tham mưu, đề xuất; sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị từ tỉnh đến cơ sở, công tác lao động, người có công và xã hội tỉnh Sơn La trong 6 tháng đầu năm 2021 đã được triển khai tổ chức thực hiện có hiệu quả các chỉ tiêu, kế hoạch lĩnh vực được giao, góp phần không nhỏ vào kết quả phát triển kinh tế - xã hội chung của tỉnh.

Trong lĩnh vực lao động, việc làm, tiền lương: 6 tháng đầu năm 2021, tỉnh Sơn La đã tổ chức tư vấn và giới việc làm cho 6.142 lượt người thông qua các các kênh thông tin đại chúng, mạng xã hội và các Trung tâm dịch vụ việc làm. Qua đó đã kết nối thành công cho 1.269 lao động đi làm việc ở các khu công nghiệp trong nước. Đây cũng là các kênh đầu mối giúp kết nối các doanh nghiệp đến với người lao động.

Tỉnh cũng đã huy động các nguồn vốn ngân sách từ quỹ quốc gia, NHCSXH, nguồn vốn ủy thác địa phương để tăng cường các hoạt động cho vay vốn giải quyết việc. Kết quả từ đầu năm, doanh số cho vay là 49.066 triệu đồng, với 1.004 dự án, tạo việc làm cho 1.101 lao động.
637588739709299648_1.jpg
Hoạt động tư vấn, giới thiệu việc làm tại Trung tâm giới thiệu việc làm tỉnh Sơn La
637588739709299648.jpgTỷ lệ thất nghiệp khu vực thành thị khoảng 3,78%. Tỷ lệ lao động nông nghiệp trong tổng lao động xã hội là 68,1%; cơ cấu lao động hợp lý theo hướng giảm tỷ lệ lao động ngành nông, lâm, ngư nghiệp, tăng tỷ lệ lao động ngành công nghiệp - xây dựng và thương mại - du lịch trong tổng lao động xã hội. Chất lượng nguồn nhân lực từng bước được nâng lên. Tỷ lệ lao động qua đào tạo khoảng 55,7%.
Hiện trên địa bàn tỉnh có 3.340 doanh nghiệp đang hoạt động với khoảng 57.230 lao động. Thu nhập bình quân hàng tháng của người lao động khu vực doanh nghiệp nhà nước 10 triệu đồng, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 15 triệu đồng và doanh nghiệp ngoài nhà nước 46 triệu đồng.
Công tác quản lý lao động người nước ngoài làm việc trên địa bàn được thực hiện đúng theo quy định của pháp luật. Tính đến 15/6/2021 có số lao động là người nước ngoài thuộc diện cấp giấy phép lao động là 06 người đã được cấp phép làm việc trên địa bàn tỉnh. Tổng số người nước ngoài hiện đang làm việc trên địa bàn tỉnh là 31 lao động.
Đối với lĩnh vực Người có công, tỉnh Sơn La cũng đã thực hiện đầy đủ các chế độ đối với người có công và nhân thân của người có công.Trong 6 tháng đầu năm, tỉnh đã giải quyết 122 hồ sơ liên quan đến: công tác mai táng phí đối với người có công với cách mạng, trợ cấp cho những người được hưởng chính sách, cấp lại thẻ thương binh, gia đình liệt sĩ...
phnuzhnd.jpg
ảnh-sếp.png
ảnh-sếp.png
phnuzhnd.jpg
phnuzhnd.jpg
Tổ chức các đoàn thăm hỏi tặng quà Mẹ Việt Nam Anh hùng
Bên cạnh đó,công tác thăm hỏi, tặng quà cho các nhóm đối tượng nằm trong diện chính sách nhân dịp Tết Nguyên đán Tân Sửu 2021 đảm bảo đầy đủ, đúng đối tượng. UBND tỉnh cũng đã chỉ đạo chính quyền các cấp cơ sở trao tặng gần 14.000 xuất quà từ các Tổ chức, lãnh đạo, doanh nghiệp và cá nhân trong và ngoài tỉnh đến tay những gia đình có người nằm trong diện chính sách; tổ chức 02 đoàn công tác xác minh được đầy đủ thông tin 46 liệt sỹ thanh niên xung phong hy sinh tại Ngã ba Cò Nòi trong chiến dịch Điện Biên Phủ; tham mưu cho Ban chỉ đạo tôn tạo, nâng cấp Khu tích lịch sử Ngã ba Cò Nòi triển khai lập Sổ vàng ghi danh 46 trường hợp liệt sĩ.
Về công tác bảo trợ xã hội và giảm nghèo: tổ chức thực hiện đầy đủ, kịp thời cho các đối tượng BTXH được hưởng trợ cấp thường xuyên và đột xuất theo Nghị định số 136/2013/NĐ-CP ngày 21/10/2013 của Chính phủ. Tổng số đối tượng được hưởng chính sách trợ giúp xã hội tại cộng đồng là 29.405 người, trong đó: tại cộng đồng: 29.325 người; tập trung tại cơ sở bảo trợ xã hội: 180 người; 100% đối tượng đủ điều kiện đều được hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng theo quy định.
Trước diễn biến phức tạp của dịch Covid-19, các cơ sở bảo trợ xã hội tổ chức cho 100% đối tượng ăn tết tại cơ sở; các hoạt động vui tết cho các đối tượng tại các cơ sở được triển khai thực hiện hiệu quả, thực hiện đầy đủ chế độ, chính sách cho đối tượng (200.000 đồng/đối tượng).
Ngoài ra, tỉnh Sơn La thường xuyên đôn đốc, hướng dẫn và kiểm tra, giám sát việc thực hiện chính sách hỗ trợ mua bảo hiểm y tế cho các đối tượng xã hội, hộ nghèo,...; rà soát, tổng hợp, xác nhận danh sách đối tượng thuộc ngành quản lý để cơ quan Bảo hiểm xã hội cấp phát thẻ bảo hiểm y tế cho các đối tượng kịp thời, đúng quy định. Tính đến tháng 5/2021 cấp 27.106 thẻ cho đối tượng người thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo; 18.024 thẻ BHYT cấp cho đối tưởng hưởng trợ cấp bảo trợ xã hội hàng tháng; 690 thẻ BHYT cấp cho NCT từ 80 tuổi trở lên hưởng trợ cấp tuất hàng tháng.
Trong công tác giảm nghèo, tỉnh đã rà soát, bổ sung, đưa ra khỏi diện hộ nghèo được thực hiện nghiêm túc, thường xuyên, đảm bảo công khai, minh bạch, thực chất. Số hộ nghèo toàn tỉnh không có biến động lớn so với cuối năm 2020, tỷ lệ hộ nghèo vẫn giữ mức khoảng là 18,38%.
Bên cạnh đó, công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em, bình đẳng giới, phòng chống tệ nạn xã hội cũng được tỉnh Sơn La chú trọng triển khai đồng bộ và đạt được một số kết quả nhất định.
Phát huy những kết quả đã đạt được trong 6 tháng đầu năm và nhìn vào những khó khăn hiện tại, thời gian tới, tỉnh Sơn La sẽ tập trung đẩy mạnh các hoạt động thông tin thị trường lao động, kết nối cung - cầu lao động, tư vấn, giới thiệu việc làm; thực hiện đồng bộ các cơ chế, chính sách, chương trình, dự án được ban hành nhằm tạo nhiều việc làm mới, việc làm tăng thêm cho người lao động, nhất là đối với lao động bị mất việc làm, thiếu việc làm do dịch Covid-19.
Thực hiện tốt chính sách tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, an toàn, vệ sinh lao động, cải thiện quan hệ lao động; Thực hiện đầy đủ kịp thời các chính sách ưu đãi, hỗ trợ phù hợp đối với người có công và thân nhân về phát triển sản xuất, việc làm, tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản, nhất là y tế, giáo dục, đào tạo; Thực hiện đồng bộ, có hiệu quả cơ chế, chính sách giảm nghèo có điều kiện gắn với đối tượng, địa bàn và thời hạn thụ hưởng nhằm tăng cơ hội tiếp cận chính sách và khuyến khích sự tích cực, chủ động tham gia của người nghèo để cải thiện điều kiện sống và tăng khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản của người nghèo; Tạo môi trường sống an toàn, thực hiện đầy đủ quyền trẻ em…
 
Xem