Skip Ribbon Commands
Skip to main content
Sign In

Tổng kết các bài học kinh nghiệm chủ yếu về an sinh xã hội của Trung Quốc và Ấn Độ

08/12/2011

Tăng cường hợp tác, học tập, trao đổi và chia sẻ kinh nghiệm với các đối tác quốc tế trong lĩnh vực an sinh xã hội, Chương trình Hợp tác giữa Bộ LĐTBXH và Ngân hàng thế giới (WB) tại Việt Nam trong năm 2011 đã được đánh dấu rõ nét bằng việc tổ chức 2 chuyến thăm và làm việc tại hai nước ở Châu Á có bối cảnh khá tương đồng với Việt Nam và đã khá thành công trong lĩnh vực an sinh xã hội – đó là Trung Quốc và Ấn Độ.

Các báo cáo chuyên đề cụ thể về kết quả khảo sát của hai đoàn đã được các thành viên của các đoàn khảo sát trình bày tại Hội thảo ngày hôm nay. Đồng thời, các bài học này cũng đã được nêu trong Báo cáo kết quả khảo sát do các Trưởng đoàn ký và gửi tới Bộ cũng như gửi tới WB tại Việt Nam.

Dưới đây là tổng hợp các bài học kinh nghiệm chủ yếu về an sinh xã hội tại Trung Quốc và Ấn Độ.

Thứ nhất, đối với Trung Quốc

1. Trọng tâm của chuyến thăm là nghiên cứu về chương trình trợ cấp xã hội Di Bao nông thôn và thành thị và chương trình hưu trí nông thôn. Tác động của chuyến khảo sát tại Trung Quốc đối với Đoàn đã thành công xét về phương diện khuyến khích tư duy mới và trao đổi kinh nghiệm thực tiễn.

2. Cải cách ở Trung Quốc được bắt đầu từ lâu (1978) nhằm mục tiêu thích ứng với quá trình hình thành và phát triển nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa mang màu sắc Trung Quốc. Đặc điểm của cải cách ở Trung Quốc là quá trình nghiên cứu và chuẩn bị triển khai thực hiện kéo dài. Khi triển khai thì bắt đầu bằng thí điểm thực hiện, rồi rút kinh nghiệm và điều chỉnh - nếu cần thiết cho phù hợp với thực tiễn, sau đó mới mở rộng triển khai.

3. Cách tiếp cận mới của Trung Quốc trong xây dựng và phát triển chương trình trợ cấp xã hội và bảo hiểm xã hội với mục tiêu “đến năm 2020 thực hiện ASXH toàn dân” là những bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam trong quá trình xây dựng và hoàn thiện hệ thống an sinh xã hội giai đoạn mới 2011-2020. Bài học ở đây là sự phân cấp rõ ràng trách nhiệm cụ thể giữa trung ương và địa phương.

4. Với quy mô dân số sống ở nông thôn khá cao (60% năm 2009), nên Trung Quốc đã thực hiện chủ trương xây dựng chính sách kinh tế-xã hội theo định hướng Tam Nông (hướng mạnh về phát triển nông nghiệp, nông thôn, nông dân). Điển hình là Trung Quốc đã triển khai thực hiện Chương trình bảo hiểm hưu trí nông thôn và Chương trình đảm bảo mức sống tối thiểu dân cư nông thôn.

5. Bảo hiểm hưu trí là chương trình cốt lõi của Hệ thống an sinh xã hội Trung Quốc. Bài học đối với Việt Nam ở đây là phấn đấu xây dựng một hệ thống bảo hiểm có khả năng cung cấp hỗ trợ đóng phí cho những người nghèo và cận nghèo, cho những người dân cư nông thôn để họ có thể tham gia hệ thống bảo hiểm xã hội tự nguyện.

6. Chương trình Mức sống tối thiểu ở nông thôn (Địa Bao nông thôn) có mục tiêu giúp những hộ nghèo có thu nhập đầu người dưới chuẩn nghèo của địa phương hoặc dưới ngưỡng nhận trợ giúp xã hội nhằm bù đắp khoảng cách giữa thu nhập và chuẩn nghèo. Chương trình này cho chúng ta thấy một mô hình sáng tạo giúp ta có được những ý tưởng để cải cách chương trình trợ giúp xã hội và giảm nghèo ở Việt Nam.

Thứ hai, đối với Ấn Độ

1. Trọng tâm của chuyến thăm là nghiên cứu các chương trình bảo trợ xã hội của Ấn độ, bao gồm cả chương trình bảo hiểm y tế (RSBY), chương trình quốc gia về bảo đảm việc làm nông thôn, chương trình mã số an sinh duy nhất (UID) và chương trình hưu trí mới của Ấn độ.

2. Việc sử dụng công nghệ thông tin trong quản lý các chương trình bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế là một thành công rất thuyết phục đối với chúng ta, chi phí rất thấp mà hiệu quả lại rất cao. Bài học về mở rộng quy mô bảo hiểm xã hội, bảo hiểm hưu trí đặc biệt ở vùng nông thôn, bán đô thị và khu vực phi chính thức, từ thiết kế, xác định đối tượng ưu tiên, phương thức thanh toán, quản lý chi trả đến trách nhiệm giải trình và theo dõi/đánh giá, đó là những kinh nghiệm rất đáng để các cơ quan chuyên môn của Việt Nam học tập.

3. Trong công tác bảo hiểm y tế cho người nghèo, các chương trình bảo hiểm y tế của Ấn Độ là các mô hình đã cho thấy tầm quan trọng của khu vực tư nhân trong việc triển khai/thực hiện các chương trình của chính phủ và cải cách bảo hiểm y tế của Việt Nam. Kinh nghiệm hay nữa ở đây chính là tính hợp lý của việc cung cấp gói lợi ích ban đầu vừa phải để bao phủ được tới các đối tượng người nghèo với chất lượng dịch vụ đảm bảo vừa đầy đủ vừa chất lượng. Sau đó, mới từng bước mở rộng gói lợi ích cho người dân, cách thức này đã làm cho người dân phấn khởi và tin tưởng vào chính sách của chính phủ được ban hành.

4. Đối với lĩnh vực bảo hiểm xã hội, cách thức tổ chức lưu trữ hồ sơ trong hệ thống hưu trí mới là một bài học tốt đối với Việt Nam, làm sao để có thể cung cấp những ưu đãi cho người lao động khu vực phi chính thức có thể tham gia hệ thống lương hưu mới, hay làm thế nào để phục vụ thật tốt, thật đáng tin cậy và không vì lợi nhuận cho người dân ở khu vực này, như vậy sẽ khuyến khích họ tin tưởng và tham gia vào hệ thống nhằm có cuộc sống đảm bảo khi về già.

5. Về mã số an sinh duy nhất (UID), đây là một chương trình đã chứng minh thành công của việc tạo ra UID và khuyến khích các doanh nghiệp tư nhân tham gia vào chương trình; chương trình đã cho thấy được cách thức làm thế nào để quản lý được sự tham gia này trong sự phát triển và thực hiện một chương trình lớn của chính phủ. Đó chính là việc thành lập một cơ quan độc lập (UIDAI) với sự điều hành của các doanh nghiệp tư nhân.

6. Cuối cùng là, chương trình Việc làm công được Chính phủ Ấn Độ ban hành thông qua Luật về Bảo đảm Việc làm nông thôn (năm 2005) nhằm đảm bảo việc làm có thu nhập cho người lao động ở nông thôn. Mục tiêu chủ yếu của chương trình là giảm nghèo và tiêu chí về giới đã được đưa vào với đối tượng thụ hưởng chương trình (dành ít nhất 1/3 số việc làm này cho phụ nữ). Tất cả những việc làm này đều thực hiện ở nông thôn và nhằm phục vụ đời sống ở những vùng nông thôn nghèo. Chúng ta cần học tập ở đây các cách thức thiết kế/xây dựng các chương trình việc làm công, tổ chức thực hiện chương trình và thu hút người dân địa phương tham gia, chuyển đổi cách thức đầu tư (từ doanh nghiệp/nhà thầu sang người dân) để người dân có việc làm và thu nhập đảm bảo cuộc sống/thoát nghèo. Tiêu chí/định mức của chương trình là mỗi hộ gia đình với những thành viên không có việc làm sẽ được hỗ trợ có việc làm với ít nhất 100 ngày công có lương mỗi năm. Chương trình đã cho thấy tác động đầu tư của Chính phủ cho khu vực nông thôn có ý nghĩa xã hội lớn.


Xem