Một số chương trình chính sách xã hội ở Ấn Độ- Nhận xét và kiến nghị của Đoàn công tác Ấn Độ

12/12/2011 1:30:22 PM

Thực hiện Quyết định số 685/QĐ-LĐTBXH ngày 03 tháng 6 năm 2011 của Bộ trưởng Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội về việc cử cán bộ đi công tác tại Ấn độ từ ngày 04/9 đến ngày 11/9/2011 trong khuôn khổ hợp tác với Ngân hàng Thế giới. Đoàn công tác gồm một số cán bộ của Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội, Bộ Tài chính, Bảo hiểm xã hội Việt Nam và Ngân hàng Thế giới tại Hà Nội. Ông Phạm Minh Huân, Thứ trưởng Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội làm Trưởng đoàn. Mục đích của chuyến công tác nhằm học tập, trao đổi kinh nghiệm về nghiên cứu, thực hiện chính sách xã hội như hệ thống lương hưu mới, chế độ trợ cấp bảo hiểm y tế cho người nghèo, chính sách đảm bảo việc làm nông thôn, và mã số nhận dạng duy nhất


I. NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN VỀ MỘT SỐ CHƯƠNG TRÌNH, CHÍNH SÁCH XÃ HỘI Ở ẤN ĐỘ:

1. Hệ thống lương hưu mới (NPS)

1.1. Bối cảnh hình thành hệ thống lương hưu mới:

Hệ thống lương hưu của Ấn Độ được thiết kế phân chia theo 3 khu vực: (1) Cán bộ công chức và lực lượng vũ trang; (2) Doanh nghiệp (có từ 20 lao động trở lên); (3) Khu vực phí chính thức (chiếm khoảng 70%).

Hệ thống lương hưu cũ của Ấn Độ là hệ thống mức hưởng xác định (DB), một mức cố định hàng tháng sẽ được trả cho công chức và cán bộ chính phủ khi về hưu cho thời gian họ đã làm việc (lương hưu bằng 50% mức lương khi đi làm việc).

Hệ thống lương hưu của Ấn Độ cũng đã gặp phải những vấn đề thách thức, đặc biệt là vấn đề cân đối quỹ hưu trí đối với cán bộ công chức. Theo tính toán sơ bộ của hệ thống, nợ lương hưu tiềm ẩn của công chức 70%GDP (trong tổng số 90% nợ GDP). Bên cạnh đó, tình trạng già hóa dân số và tuổi thọ ngày một tăng cũng là một trong những nguyên nhân làm tăng mức độ mất cân đối quỹ hưu trí và tình trạng nợ lương hưu tiềm ẩn ngày càng trầm trọng.

----gt; Để giải quyết vấn đề nêu trên, năm 2002 Thủ tướng, Bộ trưởng Bộ Nội vụ, Bộ trưởng Bộ Tài chính Ấn Độ họp bàn đưa ra quyết định thực hiện cải cáh hệ thống hưu trí bằng cách chuyển đổi từ hệ thống lương hưu theo mức hưởng xác định (DB) sang hệ thống hưu lương theo mức đóng xác định (DC). Hệ thống lương hưu mới được áp dụng đối với các cán bộ, công chức mới được tuyển dụng từ ngày 01/01/2004 trở đi.

Như vậy, kể từ ngày 01/01/2004 song song tồn tại hai hệ thống lương hưu đối với cán bộ công chức tại Ấn Độ; một mặt Chính phủ vẫn phải chi trả lương hưu cho những cán bộ công chức có thời gian công tác trước tháng 01/2004 (dự kiến quá trình chuyển đổi này mất khoảng 35 năm), một mặt phải tham gia đóng góp vào hệ thống lương hưu mới đối với những cán bộ công chức được tuyển dụng từ ngày 01/01/2004 trở đi (tỷ lệ đóng góp là Chính phủ 10%, người lao động 10%).

1.2. Quá trình hình thành hệ thống lương hưu mới:

- Năm 2002, quyết định cải cách, chuyển đổi hệ thống lương hưu từ mức hưởng xác định sang hệ thống lương hưu mức đóng xác định.

- Năm 2004, thời điểm bắt đầu áp dụng hệ thống lương hưu mới.

- Năm 2008, hệ thống chính sách, công nghệ thông tin đã được thiết lập xong và đi vào hoạt động.

- Ban đầu hệ thống lương hưu mới chỉ áp dụng đối với cán bộ công chức nhà nước, tuy nhiên những người lao động thuộc khu vực tư nhân nếu có nhu cầu cũng được tham gia vào hệ thống lương hưu mới.

1.3. Đặc điểm của hệ thống lương hưu mới:

- Hệ thống lương hưu mới dựa trên đóng góp xác định.

- Hệ thống này sử dụng mạng lưới chi nhánh ngân hàng và bưu điện hiện hành để thu khoản đóng góp.

- Tất cả công dân Ấn Độ trong độ tuổi 18-60 vào ngày nộp hồ sơ có thể tham gia đóng góp.

- Người tham gia cần tuân thủ quy tắc Hiểu biết khách hàng và nộp tất cả giấy tờ theo quy tắc Hiểu biết khách hàng.

- Hệ thống này bắt buộc tuân thủ đối với công/viên chức mới tuyển trong các cơ quan Chính phủ Trung ương (trừ lực lượng vũ trang).

- Chính phủ sẽ không đóng góp cho các cá nhân không phải công chức.

- Khoản đóng góp và lợi nhuận sẽ được gửi vào một tài khoản lương hưu không được rút.

- Hệ thống mới này có cấu trúc minh bạch và có thể tận dụng lợi thế của mạng Internet.

- Hệ thống lương hưu này cho phép người tham gia giám sát các khoản đầu tư và lợi nhuận từ đầu tư của cá nhân họ.

- Người tham gia có quyền lựa chọn tổ chức quản lý quỹ (ở Ấn độ hiện nay có 8 tổ chức quản lý quỹ) phương án đầu tư.

- Người tham gia có thể thay đổi phương án đầu tư và quỹ lương hưu.

- Người tham gia có khả năng lưu động không bị ngắt quãng quá trình tham gia và chuyển đổi giữa các Tổ chức quản lý quỹ Lương hưu, giúp họ có thể duy trì một tài khoản hưu duy nhất trong trong suốt thời kỳ tiết kiệm.

- Hệ thống lương hưu mới thiết kế cho phép người tham gia đưa ra các quyết định có lợi nhất cho tương lai của họ và cung cấp cho tuổi già của họ qua tiết kiệm có hệ thống từ ngày bắt đầu làm việc.

- Hệ thống này tạo cho công dân thói quen tiết kiệm cho lúc về hưu.

1.4. Ưu điểm và nhược điểm của hệ thống lương hưu mới

a) Ưu điểm:

- Đảm bảo cân đối quỹ hưu trí trong dài hạn, giải quyết được vấn đề nợ lương hưu của Chính phủ.

- Lợi nhuận đầu tư quỹ cao hơn các phương án đầu tư liên quan khác.

- Là phương thức lập kế hoạch tiền hưu với chi phí hiệu quả - cơ cấu chi phí rất hiệu quả.

b) Nhược điểm:

- Không có bảo lãnh đầu tư

- Mức lương hưu tùy thuộc vào số tiền đóng góp được đem đầu tư và tăng trưởng đầu tư.

- Tất cả các khoản đầu tư đều chịu rủi ro thị trường.

- Rủi ro đầu tư do người thụ hưởng chịu.

2. Chương trình việc làm công (NREGA).

Bộ luật bảo đảm việc làm nông thôn chính thức được thông qua vào ngày 25/8/2005 nhằm đảm bảo công việc cho người nông thôn trong độ tuổi đi làm. Bộ Phát Triển Nông Thôn cùng với chính quyền địa phương triển khai và giám sát thực hiện bộ luật này.

2.1. Mục tiêu của chương trình:

- Nhằm cải thiện nhu cầu công việc của người nông dân bằng hình thức đảm bảo 100 ngày làm việc trong một năm cho những công việc thủ công không đòi hỏi trình độ cho người nông dân, thông qua đó giảm được khoảng cách giữa người giàu và người nghèo.

- Chương trình này đặc biệt hướng đến đối tượng là lao động phụ nữ (1/3 lao động này sẽ phải ưu tiên cho phụ nữ).

2.2. Nội dung cơ bản của Chương trình:

- Chương trình sẽ đảm bảo cho mỗi hộ gia đình được phép làm việc 100 ngày trong một năm và được phân chia giữa các thành viên trong gia đình.

- Các hộ gia đình đều phải đăng ký tham gia chương trình. Người lao động thuộc các hộ gia đình tham gia chương trình có thể đăng ký tìm việc tại bất kỳ thời điểm nào trong năm.

- Trong vòng 15 ngày kể từ ngày nộp đơn xin việc, người dân sẽ có việc làm. Các công việc được bố trí trong phạm vi 5km so vơi nơi ở. Trường hợp không được bố trí việc làm thì người dân sẽ được hưởng trợ cấp thất nghiệp. Trợ cấp thất nghiệp sẽ bằng 25% khoản tiền lương tối thiểu cho 30 ngày đầu tiên, trợ cấp thất nghiệp cho những ngày tiếp theo sẽ bằng 50% lương tối thiểu, tùy theo tổng số ngày được hưởng theo tiêu chuẩn.

- Công việc phải kéo dài ít nhất 14 ngày và không quá 6 ngày/tuần. Tiền lương sẽ được trả hàng tuần và không muộn hơn ngày thứ 4 tính từ ngày công việc được hoàn tất.

* Đặc thù của việc làm nông thôn

Với mục tiêu tạo ra những công trình có tính lâu bền phục vụ đời sống của những người nghèo vùng nông thôn, do vậy tất cả các việc làm đều diễn ra ở nông thôn và ưu tiên theo thứ tự sau:

o Bảo vệ và cung cấp nguồn nước

o Chống hạn hán, trồng rừng và cây xanh

o Nhưng kênh đào thủy lợi

o Cung cấp các cơ sở thủy lợi cho khu vực đất đai có chủ sở hữu thuộc Tầng lớp và bộ lạc hạ đẳng hoặc hộ hưởng lợi từ cải cách ruộng đất

o Cải tạo nguồn nước

o Cải tạo đất đai

o Ngăn ngừa lũ lụt bao gồm xây dựng những đường thoát nước ở những vùng nước đọng

o Mạng lưới giao thông kết nối trong mọi điều kiện thời tiết. Đường sá có thể gồm đường ống dẫn ở những nơi cần thiết và trong khu vực làng bản, những đường ống dẫn có thể nằm cạnh với hệ thống ống thoát nước

o Bất kì công việc nào được chính phủ thông báo sau khi tham vấn chính quyền địa phương.

2.3. Quá trình triển khai thực hiện chương trình:

- Chương trình được thông qua vào 2/2/2006

- Chương trình được áp dụng tại 200 huyện trong tài khóa 2006-2007 và 130 huyện trong tài khóa 2007-2008

- Tháng 4/2008, MGNREGA mở rộng đến toàn khu vực nông thôn, gồm 34 bang và lãnh thổ liên minh, 614 huyện, và 6.096 khối;

- Chương trình đã tăng năng suất, tăng sức mua, giảm di cư do khó khăn kinh tế, và giúp tạo ra những công trình có tính lâu bền;

- Chương trình tăng cường bình đẳng xã hội và bình đẳng giới. Có thể thấy rằng số phụ nữ đã tham gia vào chương trình này nhiều hơn các chương trình trước đây.

3. Chương trình BHYT cho người nghèo:

Năm 2004, BHYT ở Ấn Độ chỉ dành cho những người có thu nhập cao (chiếm khoảng 4 đến 5% dân số). Những người nghèo bị mắc nợ do phải chi trả chi phí khám chữa bệnh ở Ấn Độ ngày một tăng. Trong khi năng lực của bệnh viện không đáp ứng đủ nhu cầu khám chữa bệnh của người dân. Trước tình hình đó, Chính phủ Ấn Độ đã giao Bộ Lao động và Việc làm nghiêm cứu, đề xuất Chương trình BHYT cho người nghèo. Nội dung cụ thể của chương trình này như sau :

3.1. Điều kiện hưởng: Phải nằm trong danh sách hộ nghèo chỉnh thức của bang; tối đa là 5 thành viên cho một hộ gia đình; phải đích thân đăng ký tham gia

3.2. Mức đóng góp: Chính phủ Trung ương đóng 75%, Chính phủ Bang đóng 25%.

3.3. Chi phí được thanh toán:

- Chi phí: tối đa là 30.000 Rs/năm (khoảng 650 $ US) cho một hộ gồm 5 nhân khẩu.

- Chương trình BHYT cho người nghèo chỉ thực hiện chi trả chi phí khám chữa bệnh nội trú, chưa thực hiện chi trả chi phí khám chữa bệnh ngoại trú.

Ngoài ra, người nghèo còn được chi trả các khoản chi phí: trước một ngày nhập viện; sau 05 ngày ra viện và chi phí đi lại 1000 Rs tương đương với 22 $.

3.4. Lựa chọn các công ty bảo hiểm tham gia:

- Các bang lựa chọn công ty bảo hiểm thông qua đấu thầu. Các công ty bảo hiểm thắng thầu sẽ lựa chọn các bệnh viện tham gia vào chương trình BHYT cho người nghèo.

- Công ty bảo hiểm xây dựng mạng lưới đại diện tại huyện và thị trấn để cung cấp cho người dân những thông tin cần thiết và tư vấn giúp họ khi lựa chọn bệnh viện và chi phí khám chữa bệnh

Sự khác biệt giữa chương BHYT người nghèo ở Ấn Độ với các chương trình BHYT trên thế giới là:

- Đây là chương trình sử dụng CNTT lớn nhất áp dụng ở nông thôn.

- Chương trình đã tạo ra nhiều lựa chọn cho người nghèo khi đi khám, chữa bệnh đối với cả bệnh viện công và bệnh viện tư.

- Chương trình này bắt đầu ở một vài huyện, sau đó được nhân rộng ra.

4. Mã số nhận dạng duy nhất (UID):

4.1. Bối cảnh ra đời:

Trước đây ở Ấn Độ sử dụng rất nhiều mã số vào các mục đích khác nhau: mã số nhận lương hưu, mã số nhận lương thực, làm hộ chiếu… nhưng chưa có cơ sở dữ liệu chung nên thường xảy ra tình trạng chồng chéo, giả mạo.. Vì vậy đòi hỏi cần phải có một mã số nhận dạng dữ liệu để dùng chung và làm sách cơ sở dữ liệu. Chính phủ đã yêu cầu phải hình thành mã số nhận dạng duy nhất và giao cho UIPAI quản lý, cấp mã số cho người dân và mã số này dùng chung cho tất cả các dịch vụ công như: nhận lương hưu, tham gia thị trường lao động, nhận học bổng, …Hiện nay, rất nhiều dịch vụ ở Ấn Độ đã sử dụng mã số nhận dạng duy nhất này để đăng ký sử dụng dịch vụ như mở tài khoản ngân hàng, đăng ký sử dụng dịch vụ điện thoại

4.2. Một số đặc điểm của mã số nhận dạng duy nhất:

- Đây là số nhận dạng không phải là thẻ, chỉ là một dãy số gồm 12 số ngẫu nhiên, không tạo lập hồ sơ nên nhìn vào sẽ không biết được người đó là nam hay nữ, trình độ học vấn, thuộc vùng địa lý và thuộc tôn giáo nào.

- Không đảm bảo cho người sở hữu mã số này quyền công dân, quyền hưởng các khoản trợ cấp mà chỉ đảm bảo về quyền sinh trắc của họ.

- Sử dụng đặc điểm sinh trắc để tạo tính duy nhất ở mỗi con người. Đối với trẻ sơ sinh, do đặc điểm sinh trắc chưa rõ ràng nên khi đăng ký mã số nhận dạng duy nhất thì có hai thời điểm cần phải bổ sung: khi 5 tuổi thì đến chụp tròng mắt; khi 15 tuổi thì đến lấy dấu vân tay.

4.3. Lợi ích của việc sử dụng UID

* Với người dân:

- UID có thể sử dụng nhiều lần để truy cập các dịch vụ khác nhau à tiện kiệm thời gian và tiền bạc.

- Người nghèo có thêm cơ hội dễ tiếp cận dịch vụ và trợ cấp xã hội các phúc lợi của chính phủ và khu vực tư.

- Người nhập cư có cơ hội lưu chuyển thông tin cá nhân.

* Với chính phủ:

- Loại bỏ kết quả trùng lặp, giúp tiết kiệm đáng kể về tài chính bang;

- Cung cấp cho chính quyền dữ liệu chính xác về người dân; tạo điều kiện cho các chương trình trợ cấp trực tiếp; cho phép các chính quyền địa phương phối hợp đầu tư và chia sẻ thông tin.

- Là công cụ giám sát hiệu quả các chương trình, dự án khác nhau của chính quyền.

4.4. Kết quả thực hiện chương trình:

Chương trình bắt đầu ra mắt vào ngày 29/9/2009 (có cả Thủ tướng dự lễ ra mắt). Sau gần hai năm hoạt động, chương trình đã cấp được trên 32 triệu mã số nhận dạng duy nhất. Đã đăng ký cho 65 triệu người. Trung bình mỗi ngày có 500.000 người đến đăng ký. Hy vọng trong thời gian tới, trung bình mỗi ngày sẽ đăng ký cho 1.000.000 người. Phấn đấu đến năm 2014 có khoảng 50% người dân được cấp mã số nhận dạng duy nhất.

II. MỘT SỐ NHẬN XÉT VÀ KIẾN NGHỊ:

Trên cơ sở nghiên cứu kinh nghiệm xây dựng và thực hiện các chương trình, chính sách của Ấn Độ, Đoàn công tác có một số nhận xét và kiến nghị như sau:

1. Một số nhận xét:

- Chênh lệch giầu – nghèo ở Ấnđộ là quá lớn. Với 40% dân ở nông thôn sống dưới chuẩn nghèo, do vậy Chính phủ đã có riêng một “Bộ Phát triển nông thôn” vói nhiều chương trình nhằm hỗ trợ cho người dân. Ấn Độ đã và đang quan tâm nhiều hơn, có nhiều chính sách cho người nghèo nhằm giảm chênh lệch giàu nghèo và bất bình đẳng đã tồn tại lâu dài ở Ấn Độ.

- Về hệ thống BHXH: mới thực hiện bắt buộc đối vơi các doanh nghiệp tư nhân có sử dung từ 20 lao động trở lên. Chính phủ đã phát hiện vấn đề nợ lương hưu tiền ẩn, nếu tiếp tục thực hiện theo cơ chế DB (mức hưởng xác đinh bằng 50% lương thực tế). Do vây, Chính phủ quyết tâm cải cách hệ thống, chuyển từ hệ thống DB sang hệ thống DC với đối tượng cần gương mẫu nhất là công chức nhà nước mới tuyển dụng từ tháng 01/2004, sau đó sẽ áp dụng với tất cả. Người tham gia có quyền lựa chọn tổ chức quản lý quỹ cho mình (hiện có 8 đơn vị quản lý quỹ) và có thể lụa chọn cách thức đầu tư số tiền trong tài khoản của mình. Việc quản lý hồ sơ được thực hiện ở “cơ quan lưu trũ hồ sơ trung ương” đảm bảo dễ dàng cho người lao động khi thay đổi công việc.

*Với khu vực phi chính thức (70% dân số): khó thực hiện BHXH tự nguyện, vì vậy để khuyến khích tham gia Chính phủ hỗ trợ người dân 1000 Rupy khi bắt đầu tham gia.

- Về chương trình bảo hiểm y tế cho người nghèo (là chương trình được giao cho Bô LĐ và Việc làm): Chính phủ TW đảm bảo 75%, địa phương 25% chi phí đóng . Chỉ thanh toán các chi chi phí khi điều trị nội trú, mức cao nhất là 650 USD/hộ. Với cách tiếp cận là mở rộng dần quyền lợi, chứ không phải là quy định rộng rãi ban đầu rồi về sau lại thắt chặt, sẽ bị người dân phản ứng.

- Chương trình đảm bảo việc làm nông thôn Mahatma Gandhi_NREGA. Đây là một chương trình giảm nghèo mang tính phát triển vì chương trình đã nâng cao thu nhập cho người dân nông thôn thông qua việc thu hút vào các hoạt động lao động xây dựng các công trình tại địa phương. Thay bằng việc cung cấp ngân sách cho các nhà thầu, các doanh nghiệp, Chính phủ sẽ trả trực tiếp cho những người lao động đang cần việc làm tại những vùng nông thôn. Hiệu quả của việc đầu tư này có ý nghĩa xã hội lớn hơn rất nhiều nếu đầu tư cho các nhà thầu. Tuy nhiên một lưu ý, đối với 1 số công trình cũng cần hỗ trợ kỹ thuật từ bên ngoài để bảo đảm chất lượng của công trình.

- Về ứng dụng công nghệ thông tin: Đưa CNTT trở thành công cụ quản lý các chính sách giúp giám sát và đánh giá tốt hơn và hiệu quả hơn về các chính sách và các chương trình cũng như tiết kiệm chi phí quản lý, bảo đảm sự công khai, minh bạch thật sự trong thực hiện việc cấp thẻ bảo hiểm y tế (có ảnh), trong việc quản lý việc làm công, trong việc quản lý BHXH (theo báo cáo chi phí quản lý của quỹ là 0,0009%). Đặc biệt Ấn độ đang thực hiện cấp mã số nhận dạng duy nhất với những thông tin cá nhân, ảnh tròng mắt (lúc 5 tuổi) và 10 vân tay (lúc 15 tuổi) cho tất cả mọi công dân. Về tương lai các số quản lý trong các lĩnh vực khác cũng sẽ kết nối với mã số nhận dạng này.

2. Một số kiến nghị:

(1) Cải cách hệ thống hưu trí của Việt Nam

Cùng với xu hướng già hóa dân số, tốc độ tăng đối tượng hưởng và áp lực tăng mức hưởng lương hưu để đảm bảo cuộc sống người nghỉ hưu như hiện nay, quỹ hưu trí và tử tuất sẽ khó đảm bảo cân đối trong dài hạn, tình trạng nợ lương hưu tiềm ẩn ngày càng trầm trọng. Như vậy, giống như Ấn Độ thì Việt Nam cũng đang rơi vào tình trạng nợ lương hưu tiềm ẩn.

Để giải quyết vấn đề nợ lương hưu tiềm ẩn hiện nay, cần nghiên cứu, đánh giá tổng thể các quy định của Luật Bảo hiểm xã hội về chế độ hưu trí để điều chỉnh một số tham số chế độ hưu trí đáp ứng tốt hơn nguyên tắc BHXH (tuổi nghỉ hưu, cách tính lương hưu giữa khu vực nhà nước và khu vực tư nhân,..), đặc biệt về lâu dài cần có nghiên cứu, đề xuất lộ trình cải cách tổng thể hệ thống hưu trí nhằm đảm bảo cân đối quỹ bảo hiểm xã hội trong dài hạn. Kinh nghiệm của Ấn Độ trong việc cải cách hệ thống hưu trí thông qua việc chuyển đổi từ hệ thống DB sang hệ thống DC cũng là bài học tốt cho Việt Nam trong quá trình nghiên cứu cải cách hệ thống hưu trí trong thời gian tới.

(2) Triển khai chính sách BHYT ở Việt Nam:

a) Cấp thẻ BHYT:

Cấp thẻ BHYT điện tử cho các đối tượng tham gia BHYT để giảm thiểu việc sử dụng giấy tờ, tiết kiệm chi phí quản lý, thời gian lao động.

c) Quản lý, thanh toán chi phí KCB:

- Xây dựng các gói điều trị bệnh và thanh toán theo gói điều trị bệnh để tạo sự bình đẳng giữa các tuyến chuyên môn. Như vậy tránh tình trạng phát sinh chi phí khám, chữa bệnh không cần thiết do việc lạm dụng sử dụng các dịch vụ kỹ thuật cao, các loại thuốc.

- Triển khai một phần mềm quản lý chi phí KCB thống nhất trên toàn quốc tại các cơ sở y tế và hệ thống BHXH để việc thanh toán, thống kê chi phí KCB được nhanh chóng, chính xác.

(3) Hình thành mã số an sinh xã hội để phục vụ công tác quản lý đối tượng tham gia và thụ hưởng các chính sách xã hội, đặc biệt là các đối tượng hưởng trợ cấp từ ngân sách Nhà nước:

Hiện nay, ở Việt Nam mỗi cơ quan quản lý đối tượng của mình bằng một mã số riêng, dẫn đến tình trạng một người được cấp rất nhiều mã số khác nhau. Ví dụ, một người dân khi đến tuổi được cấp số chứng minh nhân dân, khi tham gia vào thị trường lao động được cấp số sổ lao động, số sổ BHXH, số thẻ BHYT, số tài khoản ngân hàng,…và khi về già được cấp số sổ hưu trí. Điều này, không chỉ gây nhiều phiền toái cho người dân trong việc tham gia vào các hoạt động xã hội cũng như tham gia và thụ hưởng các chính sách xã hội của Nhà nước, mà còn tạo sự chồng chéo, gây lãng phí nguồn lực. Vì vậy, việc nghiên cứu xây dựng một mã số duy nhất (mã số an sinh xã hội) cho mỗi người dân làm cơ sở thực hiện các hoạt động dịch vụ và chính sách xã hội khác là rất cần thiết. Trước mắt, đối với Bảo hiểm xã hội Việt Nam việc nghiên cứu, xây dựng một mã số duy nhất cho mỗi người lao động khi tham gia vào hệ thống bằng cách thống nhất các mã số sổ BHXH, thẻ BHYT và số sổ hưu trí.

(4) Ứng dụng rộng rãi công nghệ thông tin trong việc tổ chức triển khai thực hiện các chính sách xã hội, đưa CNTT trở thành công cụ chính để quản lý và giám sát các chính sách.

- Ứng dụng rộng rãi CNTT vào việc quản lý đối tượng tham gia và hưởng thụ với những đặc điểm sinh trắc để tránh tình trạng giả mạo.

- Cần phải có một cơ sở dữ liệu toàn quốc do Trung ương quản lý để chia sẻ thông tin giữa các địa phương. Thường xuyên cập nhật sự thay đổi thông tin của người tham gia và người thụ hưởng kịp thời.

- Có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cấp chính quyền, các cơ quan quản lý nhà nước và cơ quan tổ chức thực hiện trong việc chia sẻ thông tin để tránh trùng lắp trong việc khai báo các thông tin, tránh giả mạo do thông tin.