Quỹ Dân số Liên Hợp Quốc tại Việt Nam (UNFPA)

Ngày cập nhật: 27-12-2011
UNFPA, Quỹ Dân số Liên Hợp Quốc, một tổ chức phát triển quốc tế, làm việc với nhiều quốc gia để bảo vệ và nâng cao sức khỏe sinh sản (SKSS) và sức khỏe tình dục (SKTD) cho phụ nữ, nam giới và trẻ em

Giới thiệu chung

Quỹ Dân số Liên hợp quốc (UNFPA) là cơ quan trực thuộc Liên hợp quốc, bắt đầu các hoạt động từ năm 1969 và lúc đầu được đặt dưới sự quản lý của Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP). Năm 1966 chính thức được thành lập theo Nghị quyết của Đại hội đồng Liên hợp quốc.
Năm 1971, Đại Hội đồng Liên hợp quốc giao cho UNFPA nhiệm vụ tăng cường nhận thức và khả năng giải quyết các vấn đề dân số và phát triển của quốc gia, khu vực, liên khu vực và toàn cầu với sự giúp đỡ của các cơ quan trong hệ thống Liên hợp quốc và sự phối hợp hành động quốc tế. Một năm sau (năm 1972), do sự phát triển về nguồn vốn và phạm vi hoạt động, UNFPA được đặt dưới sự điều hành trực tiếp của Đại hội đồng Liên hợp quốc, nâng vị trí của UNFPA lên ngang với Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF) và UNDP.

Các nước thành viên của Liên hợp quốc đều được coi là thành viên của UNFPA. Các thành viên Hội đồng Chấp hành UNFPA cũng đồng thời là thành viên Hội đồng Chấp hành UNDP. UNFPA chịu sự chỉ đạo về mặt chính sách của Đại hội đồng Liên hợp quốc và Uỷ ban Kinh tế - Xã hội Liên hợp quốc (ECOSOC).

Tôn chỉ và mục đích của UNFPA

Trợ giúp các nước đang phát triển thông qua việc cung cấp các dịch vụ có chất lượng trong sức khoẻ sinh sản và kế hoạch hoá gia đình trên cơ sở sự lựa chọn của cá nhân. Hỗ trợ việc xây dựng các chính sách dân số phục vụ phát triển bền vững.

Thúc đẩy việc thực hiện chiến lược dân số do hội nghị quốc tế về Dân số và Phát triển thông qua năm 1994 (ICPD) và được kiểm điểm tại khoá họp đặc biệt của Đại hội đồng Liên hợp quốc năm 1999 (ICPD+ 5). Chiến lược này không chỉ hướng vào các chỉ tiêu nhân khẩu học mà còn coi trọng yêu cầu nâng cao địa vị của phụ nữ, đưa lại cho phụ nữ nhiều sự lựa chọn hơn thông qua tăng cường tiếp cận với giáo dục, các dịch vụ sức khoẻ và các cơ hội việc làm.

Thúc đẩy sự hợp tác và điều phối giữa các tổ chức liên hợp quốc, các tổ chức song phương, các Chính phủ, các Tổ chức phi chính phủ (NGOs) và khu vực tư nhân trong việc giải quyết các vấn đề về dân số và phát triển, sức khoẻ sinh sản, bình đẳng giới và nâng cao địa vị phụ nữ.

Các hình thức hỗ trợ của UNFPA

Hỗ trợ của UNFPA mang tính hỗ trợ kỹ thuật thông qua các chương trình, dự án viện trợ được xây dựng với sự phối hợp của Chính phủ nước nhận viện trợ. Tứ khi bắt đầu hoạt động năm 1969, Quỹ Dân số đã cung cấp 5 tỷ USD viện trợ cho các nước đang phát triển, tập trung vào ba lĩnh vực, chương trình chính như sau:

Sức khoẻ sinh sản:
UNFPA hỗ trợ việc cung cấp các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ sinh sản bao gồm việc đưa ra nhiều lựa chọn hơn về các biện pháp kế hoạch hoá gia đình và cung cấp thông tin. Theo định nghĩa của UNFPA, chăm sóc sức khoẻ sinh sản bao gồm: kế hoạch hoá gia đình; làm mẹ an toàn; tư vấn và phòng ngừa vô sinh; ngăn ngừa và chữa trị viêm nhiễm đường sinh sản và các bệnh lây nhiễm qua đường tình dục bao gồm cả HIV/AIDS.

Chiến lược dân số và phát triển
: UNFPA giúp các nước xây dựng, thực hiện và đánh giá các danh sách dân số tổng thể như là một phần trọng tâm của các chiến lược phát triển bền vững. Sự hỗ trợ này bao gồm việc thu thập, phân tích số liệu và nghiên cứu về dân số.

Thông tin- giáo dục- truyền thông:
UNFPA thực hiện các hoạt động thông tin - giáo dục -truyền thông về các mục tiêu của Hội nghị quốc tế về dân số và phát triển (ICPĐ) và khoá họp đặc biệt của Đại hội đồng Liên hợp quốc năm 1999 (ICPD+5) bao gồm: sức khoẻ sinh sản và các quyền và sức khoẻ sinh sản nâng cao địa vị của phụ nữ; tăng tuổi thọ; giảm tử vong bà mẹ và trẻ sơ sinh; tăng cường năng lực quốc gia về xây dựng và thực hiện các chiến lược về dân số và phát triển; nâng cao nhận thức và tăng cường các nguồn lực về dân số và phát triển.

Quan hệ hợp tác và phát triển giữa Việt Nam và UNFPA

UNFPA đã hoạt động tích cực ở Việt Nam từ năm 1977, và hỗ trợ khoảng 140 triệu đô la. Việt Nam là thành viên Hội đồng Chấp hành UNDP - UNFPA từ năm 2000-2002 và là Phó Chủ tịch Hội đồng này trong hai năm 2000 và 2001. Năm 1999, Việt Nam được trao giải thưởng Dân số của Liên hợp quốc.

Trong chu kỳ tài trợ gần đây nhất giai đoạn 2006 - 2010, UNFPA hướng tới việc nâng cao việc tiếp cận đến các dịch vụ chăm sóc SKSS và SKTD cho người dân. Hỗ trợ Việt Nam thu thập dữ liệu có chất lượng cao và chuẩn bị cho cuộc Tổng điều tra dân số và nhà ở quốc gia năm 2009. UNFPAcũng góp phần vào các cuộc đối thoại chính sách và giúp chính phủ thực hiện các chính sách và chương trình liên quan tới các vấn đề về giới, dân số và phát triển.

UNFPA cũng đang hợp tác chặt chẽ với các Tổ chức Liên hiệp quốc tại Việt Nam nhằm đáp ứng mạnh mẽ và thống nhất hơn cho các nhu cầu phát triển của Việt Nam khi đất nước hướng tới đạt mục tiêu thuộc quốc gia có mức thu nhập trung bình.
Ba giai đoạn tài trợ đầu tiên của UNFPA ở Việt Nam và đã được UNFPA thực hiện từ năm 1978 đến năm 1991 tập trung chủ yếu vào vấn đề kế hoạch hóa gia đình, các dịch vụ chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ em để các vấn đề này được thực hiện theo đúng mục tiêu và chiến lược về Chính sách dân số quốc gia của chính phủ và các đánh giá nhu cầu cơ bản đã được Chính phủ ban hành. Khoảng 74% tổng số tiền tài trợ trong giai đoạn này được chi tiêu cho KHHGĐ và sức khỏe bà mẹ và trẻ em. UNFPA cũng đã hỗ trợ Chính phủ trong các cuộc Tổng điều tra dân số quốc gia năm 1979 và 1989.

Để thực hiện Chương trình hành động có tính bước ngoặt của Hội nghị quốc tế về dân số và phát triển (ICPD)được tổ chức ở Cairo năm 1994, nội dung chính của Chương trình quốc gia IV giai đoạn 1992-1996 đã được điều chỉnh phù hợp.Các chiến lược dân số được rà soát lại dựa trên nhu cầu của Việt Nam và KHHGĐ là một phần trong việc tiếp cận đến quyền và SKSS/SKTD một cách toàn diện hơn.

Chiến lược Dân số - Kế hoạch hóa gia đình Việt Nam giai đoạn 1993-2000 là cơ sở xây dựng Chương trình Quốc gia V giai đoạn 1997 – 2000 của UNFPA. Chương trình giai đoạn này chú trọng tăng cường công tác quản lý và nâng cao năng lực lập kế hoạch của các đối tác chính, bao gồm Bộ Y tế và Ủy ban dân số, gia đình và trẻ em Việt Nam trước đây (nay là Tổng cục dân số và kế hoach hóa gia đình ). Trong giai đoạn này, tỷ lệ sử dụng các biện pháp tránh thai của Việt Nam gia tăng và tổng tỷ suất sinh giảm.

Chương trình Quốc gia VI hợp tác giữa Chính phủ Việt Nam và UNFPA giai đoạn 2001 - 2005 đã chuyển hướng nội dung chương trình về các hoạt động dân số từ trọng tâm là giảm sự tăng trưởng dân số sang việc nâng cao chất lượng SKSS. Trọng tâm này cũng phù hợp với các chính sách quốc gia với các cam kết quốc tế mà Việt Nam đã ký về việc tăng cường tính sẵn có của công tác chăm sóc SKSS ở mức chăm sóc sức khỏe ban đầu.

Trụ sở chính của UNFPA đặt tại Niu Óoc (Hoa Kỳ). UNFPA có Văn phòng đại diện tại Việt Nam, do đại diện thường trú UNFPA đứng đầu.

Tìm theo ngày

Đánh giá

(Di chuột vào ngôi sao để chọn điểm)
   refresh capcha

Văn bản Chỉ đạo điều hành

Quyết định số 261/QĐ-LĐTBXH về việc đổi tên Trường Cao đẳng nghề Đại An thành Trường...Công văn số 870/LĐTBXH-VP v/v báo cáo tổng kết thi hành Nghị định về công tác văn...Quyết định số 272/QĐ-LĐTBXH về việc thu hồi Giấy phép hoạt động cho thuê lại lao...Quyết định số 260/QĐ-LĐTBXH v/v ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện Đề án "Tuyên...Quyết định số 259/QĐ-HĐPHPBGDPL về ban hành Kế hoạch hoạt động của Hội đồng phối hợp...Giấy mời số 780/GM-LĐTBXH tọa đàm về thực trạng và định hướng phát triển quan hệ lao...Công văn số 717/LĐTBXH-KHTC v/v thông báo thực hiện văn bản mới ban hànhCông văn số 697/LĐTBXH-TCCB v/v thống kê thực trạng và nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng...Công văn số 672/LĐTBXH-TE v/v hướng dẫn công tác trẻ em năm 2019Công văn số 665/LĐTBXH-KHTC v/v báo cáo tình hình giải ngân vốn đầu tư công năm 2018Công văn số 661/LĐTBXH-KHTC v/v báo cáo thực hành tiết kiệm, chống lãng phí năm 2018Công văn số 661/LĐTBXH-KHTC v/v báo cáo thực hành tiết kiệm, chống lãng phí năm 2018Công văn số 655/LĐTBXH-BĐG v/v mời tham dự Hội thảo tham vấn xây dựng kế hoạch thực...Công văn số 654/LĐTBXH-BĐG v/v cung cấp thông tin về các sản phẩm truyền thông về...Công văn số 616/LĐTBXH-TCGDNN v/v xin ý kiến về dự thảo Thông tư sửa đổi điểm m...Công văn số 51/KHLĐ-QLKH v/v báo cáo tình hình thực hiện nhiệm vụ KH&CN năm 2019 và...Công văn số 596/LĐTBXH-TCGDNN v/v bổ sung lịch trình tổ chức các kỳ đánh giá kỹ năng...Công văn số 595/LĐTBXH-BĐG v/v báo cáo tình hình triển khai Mô hình Cơ sở trợ giúp...Công văn số 591/LĐTBXH-BTXH v/v tăng cường triển khai thưc hiện trợ giúp xã hội đối...Công văn số 566/LĐTBXH-KHTC v/v triển khai thực hiện Chỉ thị số 01/CT-TTg ngày...Công văn số 471/LĐTBXH-KHTC v/v thông báo thực hiện văn bản mới ban hànhQuyết định số 13/QĐ-XPVPHC xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đưa người lao...Quyết định số 98/QĐ-LĐTBXH v/v ban hành Chương trình công tác lĩnh vực lao động,...Quyết định về việc công nhận danh hiệu "Tập thể lao động tiên tiến" năm 2018Quyết định số 10/QĐ-XPVPHC xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đưa người lao...Quyết định về việc khen thưởng tổng kết năm 2018Quyết định về việc công nhận danh hiệu thi đua và khen thưởng tổng kết năm 2018Quyết định số 04/QĐ-XPVPHC xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đưa người lao...Quyết định số 04/QĐ-XPVPHC xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đưa người lao...Công văn số 121/LĐTBXH-VP v/v báo cáo kết quả tổ chức hội nghị, hội thảo, tập huấn...
Quyết định số 261/QĐ-LĐTBXH về việc đổi tên Trường Cao đẳng nghề Đại An thành Trường...Công văn số 870/LĐTBXH-VP v/v báo cáo tổng kết thi hành Nghị định về công tác văn...Quyết định số 272/QĐ-LĐTBXH về việc thu hồi Giấy phép hoạt động cho thuê lại lao...Quyết định số 260/QĐ-LĐTBXH v/v ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện Đề án "Tuyên...Quyết định số 259/QĐ-HĐPHPBGDPL về ban hành Kế hoạch hoạt động của Hội đồng phối hợp...Giấy mời số 780/GM-LĐTBXH tọa đàm về thực trạng và định hướng phát triển quan hệ lao...Công văn số 717/LĐTBXH-KHTC v/v thông báo thực hiện văn bản mới ban hànhCông văn số 697/LĐTBXH-TCCB v/v thống kê thực trạng và nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng...Công văn số 672/LĐTBXH-TE v/v hướng dẫn công tác trẻ em năm 2019Công văn số 665/LĐTBXH-KHTC v/v báo cáo tình hình giải ngân vốn đầu tư công năm 2018Công văn số 661/LĐTBXH-KHTC v/v báo cáo thực hành tiết kiệm, chống lãng phí năm 2018Công văn số 661/LĐTBXH-KHTC v/v báo cáo thực hành tiết kiệm, chống lãng phí năm 2018Công văn số 655/LĐTBXH-BĐG v/v mời tham dự Hội thảo tham vấn xây dựng kế hoạch thực...Công văn số 654/LĐTBXH-BĐG v/v cung cấp thông tin về các sản phẩm truyền thông về...Công văn số 616/LĐTBXH-TCGDNN v/v xin ý kiến về dự thảo Thông tư sửa đổi điểm m...Công văn số 51/KHLĐ-QLKH v/v báo cáo tình hình thực hiện nhiệm vụ KH&CN năm 2019 và...Công văn số 596/LĐTBXH-TCGDNN v/v bổ sung lịch trình tổ chức các kỳ đánh giá kỹ năng...Công văn số 595/LĐTBXH-BĐG v/v báo cáo tình hình triển khai Mô hình Cơ sở trợ giúp...Công văn số 591/LĐTBXH-BTXH v/v tăng cường triển khai thưc hiện trợ giúp xã hội đối...Công văn số 566/LĐTBXH-KHTC v/v triển khai thực hiện Chỉ thị số 01/CT-TTg ngày...Công văn số 471/LĐTBXH-KHTC v/v thông báo thực hiện văn bản mới ban hànhQuyết định số 13/QĐ-XPVPHC xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đưa người lao...Quyết định số 98/QĐ-LĐTBXH v/v ban hành Chương trình công tác lĩnh vực lao động,...Quyết định về việc công nhận danh hiệu "Tập thể lao động tiên tiến" năm 2018Quyết định số 10/QĐ-XPVPHC xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đưa người lao...Quyết định về việc khen thưởng tổng kết năm 2018Quyết định về việc công nhận danh hiệu thi đua và khen thưởng tổng kết năm 2018Quyết định số 04/QĐ-XPVPHC xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đưa người lao...Quyết định số 04/QĐ-XPVPHC xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đưa người lao...Công văn số 121/LĐTBXH-VP v/v báo cáo kết quả tổ chức hội nghị, hội thảo, tập huấn...