Dân số Việt Nam hơn 96,2 triệu người, là nước đông dân thứ 15 trên thế giới

Ngày cập nhật: 11-07-2019

Toàn cảnh lễ công bố
Ngày 11/7, Ban Chỉ đạo tổng điều tra dân số và nhà ở Trung ương đã tổ chức Hội nghị trực tuyến toàn quốc, công bố kết quả sơ bộ tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019. Đồng chí Vương Đình Huệ - Phó Thủ tướng Chính phủ - Trưởng Ban Chỉ đạo TW , chủ trì hội nghị.

Kết quả Tổng điều tra dân số lần thứ 5 tại Việt Nam cho thấy tính đến 0 giờ ngày 1/4/2019, tổng dân số của Việt Nam đạt 96.208.984 người. Với kết quả này, Việt Nam là quốc gia đông dân thứu 15 trên thế giới và đứng thứ 3 trong khu vực Đông Nam Á (sau Indonesia và Philipines).

Trong tổng số hơn 96,2 triệu dân, có 47,88 triệu người (chiếm 49,8%) là nam giới và 48,32 triệu người (chiếm 50,2%) là nữ giới. So với năm 2009, vị trí xếp hạng về quy mô dân số của Việt Nam trong khu vực Đông Nam Á không thay đổi và giảm hai bậc so với các quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới. Sau 10 năm, kể từ năm 2009 đến nay, quy mô dân số Việt Nam tăng thêm 10,4 triệu người. Tỷ lệ tăng dân số bình quân năm giai đoạn 2009 – 2019 là 1,14%/năm, giảm nhẹ so với giai đoạn 10 năm trước (1,18%/năm).

Kết quả tổng điều tra 2019 cũng cho thấy, Việt Nam là quốc gia có mật độ dân số cao so với các nước trên thế giới và trong khu vực. Năm 2019, mật độ dân số của Việt Nam là 290 người/km2, tăng 31 người/km2 so với năm 2009.  TP.Hà Nội và TP.HCM là hai địa phương có mật độ dân số cao nhất cả nước, tương ứng là 2.398 người/km2 và 4.363 người/km2.

Trong 10 năm qua, tốc độ đô thị hoá diễn ra nhanh và rộng khắp tại các địa phương đã tác động làm gia tăng dân số ở khu vực thành thị. Dân số khu vực thành thị năm 2019 ở Việt Nam là 33.059.735 người, chiếm 34,4%; ở khu vực nông thôn là 63.149.249 người, chiếm 65,6%.

Phân bổ dân cư giữa các vùng kinh tế - xã hội có sự khác biệt đáng kể. Vùng Đồng bằng sông Hồng là nơi tập trung dân cư lớn nhất của cả nước với 22,5 triệu người, chiếm gần 23,4%; tiếp đến là vùng Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung với 20,2 triệu người, chiếm 21%. Tây Nguyên là nơi có ít dân cư sinh sống nhất với tổng dân số là 5,8 triệu người, chiếm 6,1% dân số cả nước.

Về cơ cấu dân tộc, hiện toàn quốc có hơn 82 triệu người dân tộc Kinh, chiếm 85,3% và hơn 14,1 triệu người dân tộc khác, chiếm 14,7% tổng dân số của cả nước.

Theo kết quả sơ bộ tổng điều tra dân số, toàn quốc có khoảng 91,7% dân số trong độ tuổi đi học phổ thông hiện đang đi học. Tỷ lệ này của nữ cao hơn so với nam, tương ứng là 92,5% và 90,8%. Trong vòng 20 năm qua, tỷ trọng dân số trong độ tuổi đi học phổ thông hiện không đi học (chưa bao giờ đi học hoặc đã thôi học) giảm đáng kể, từ 20,9% năm 1999 xuống còn 16,4% năm 2009 và còn 8,3% năm 2019.

Kết quả tổng điều tra dân số công bố sáng 11/7

Cả nước có 95,8% người dân từ 15 tuổi trở lên biết đọc biết viết, tăng 1,8 điểm phần trăm so với năm 2009. Tỷ lệ nam giới biết đọc biết viết đạt 97,0%, cao hơn 2,4 điểm phần trăm so với tỷ lệ này ở nữ giới. Trong 20 năm qua, tỷ lệ biết đọc biết viết của nữ tăng 7,7 điểm phần trăm; khoảng cách chênh lệch về tỷ lệ biết đọc biết viết giữa nam và nữ được thu hẹp đáng kể.

Năm 1999, tỷ lệ biết đọc biết viết của nam là 93,9%, cao hơn tỷ lệ này của nữ 7,0 điểm phần trăm; đến năm 2019, tỷ lệ đọc biết viết của nam đạt 97,0%, cao hơn tỷ lệ của nữ 2,4 điểm phầm trăm.

Cả nước vẫn còn 4.800 hộ (trong tổng số 26,9 triệu hộ dân cư toàn quốc) không có nhà ở, mặc dù tình trạng hộ không có nhà ở đang dần được cải thiện, từ mức 6,7 hộ/10.000 hộ vào năm 1999 xuống còn 4,7 hộ/10.000 hộ năm 2009, và đến nay là 1,8 hộ/10.000 hộ.

Điều tra tính đến ngày 1/4 cho thấy, hầu hết hộ dân cư ở Việt Nam đang sống trong các ngôi nhà kiên cố hoặc bán kiên cố (93,1%). Tỷ lệ này ở khu vực thành thị đạt 98,2%, cao hơn 7,9 điểm phần trăm so với khu vực nông thôn (90,3%). Diện tích nhà ở bình quân đầu người năm 2019 là 23,5 m2/người, cao hơn 6,8 m2/người so với 10 năm trước.

Cư dân thành thị có diện tích nhà ở bình quân đầu người cao hơn cư dân nông thôn, tương ứng là 24,9 m2/người và 22,7 m2/người. Không có sự chênh lệch đáng kể về diện tích nhà ở bình quân đầu người giữa các vùng kinh tế - xã hội

Phát biểu tại Hội nghị, Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ cho rằng, kết quả thể hiện ở số liệu của Tổng điều tra năm 2019 cho thấy nỗ lực và hiệu quả của nhiều chính sách trong thời gian qua đã được thực hiện tốt. Thành quả này có được là nhờ những Chủ trương, đường lối chính sách và sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng và Chính phủ trong nhiều năm qua; nhờ sự tin tưởng và những nỗ lực không ngừng của mỗi người dân trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước. Phó thủ tướng Vương Đình Huệ nhấn mạnh, kết quả sơ bộ này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc hoạch định chính sách nhằm tận dụng được thời cơ dân số vàng, khắc phục được tình trạng chưa giàu đã già, cũng như nguy cơ rơi vào bẫy thu nhập trung bình thấp./.

 

 

Tìm theo ngày

Đánh giá

(Di chuột vào ngôi sao để chọn điểm)
   refresh capcha

Văn bản Chỉ đạo điều hành

Công văn số 2701/LĐTBXH-TCCB V/v Triệu tập tham dự lớp "Công tác truyền thông trong...Công văn số 2675 /LĐTBXH-KHTC V/v Xây dựng dự toán ngân sách năm 2020 và kế hoạch...Công văn số 2674 /LĐTBXH-KHTC V/v Báo cáo về biên chế, tiền lương để xây dựng dự...Công văn số 2653 /LĐTBXH-KHTC V/v xây dựng Kế hoạch phát triển lĩnh vực lao động,...Công văn số 2652 /LĐTBXH-KHTC V/v xây dựng kế hoạch phát triển lĩnh vực lao động,...Công văn số 2638/LĐTBXH-KHTC V/v xây dựng dự toán ngân sách trung ương thực hiện...Công văn số 2637/LĐTBXH-KHTC V/v xây dựng dự toán ngân sách nhà nước năm 2020 và kế...Quyết định số 943/QĐ-LĐTBH về việc phê duyệt kế hoạch mua sắm tài sản và kế hoạch...Công văn số 2510/LĐTBXH-VP V/v thực hiện gửi nhận văn bản điện tử trên trục liên...Công văn số 898/QLLĐNN V/v giới thiệu chức danh và chữ kýKế hoạch số 2464/KH-LĐTBXH Thăm tặng quà nhân kỷ niệm 72 năm ngày Thương binh - Liệt...Công văn số 295/KHLĐ-QLKH V/v tuyển chọn cá nhân, tổ chức chủ trì thực hiện nhiệm vụ...Quyết định số 792/QĐ-LĐTBXH Phê duyệt Kế hoạch triển khai Nghị quyết số 17/NQ-CP...Quyết định số 741/QĐ-LĐTBXH về việc phê duyệt kế hoạch mua sắm tài sản, hàng hóa và...Quyết định số 752/QĐ-LĐTBXH Thành lập Ban soạn thảo xây dung Pháp lệnh Ưu đãi người...Quyết định số 745/QĐ-LĐTBXH Ban hành Kế hoạch thực hiện Đề án "Tăng cường phổ biến,...Quyết định số 736/QĐ-LĐTBXH Ban hành chỉ tiêu giám sát, đánh giá thực hiện Đề án Đào...Công văn số 2068/LĐTBXH-KHTC V/v đôn đốc thực hiện cải cách tài chính công và báo...Công văn số 2002/LĐTBXH-TCCB V/v đăng ký tham gia các khóa bồi dưỡng trung hạn tại...Công văn số 1939/LĐTBXH-TCCB V/v đăng ký tham gia các khóa bồi dưỡng trung hạn năm...Công văn số 190/KL-TTr Việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ, công tác quản lý tài...Quyết định số 673/QĐ-LĐTBXH về việc tổ chức lớp tập huấn "Ứng dụng công nghệ thông...Công văn 1894/LĐTBXH-KHTC v/v thông báo thực hiện văn bản mới ban hànhCông văn số 1882/LĐTBXH-TCCB V/v triệu tập tham dự lớp tập huấn "Ứng dung công nghệ...Quyết định số 655/QĐ-LĐTBXH Phê duyệt Kế hoạch triển khai Đề án Hệ tri thức Việt số...Công văn số 1851/LĐTBXH-BTXH V/v góp ý dự thảo Quyết định chỉ đạo tuyến ngành Lao...Thông báo số 1826/TB-LĐTBXH Kết luận của Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã...Công văn số 1789/LĐTBXH-VP V/v góp ý Quyết định phê duyệt Kế hoạch hành động của Bộ...Công văn số 196/VP-TĐKT v/v đề cử xét tặng Giải thưởng Phụ nữ Việt nam năm 2019Công văn số 194/VP-CCHC v/v đóng góp ý kiến vào Dự thảo Quyết định ban hành Quy chế...
Công văn số 2701/LĐTBXH-TCCB V/v Triệu tập tham dự lớp "Công tác truyền thông trong...Công văn số 2675 /LĐTBXH-KHTC V/v Xây dựng dự toán ngân sách năm 2020 và kế hoạch...Công văn số 2674 /LĐTBXH-KHTC V/v Báo cáo về biên chế, tiền lương để xây dựng dự...Công văn số 2653 /LĐTBXH-KHTC V/v xây dựng Kế hoạch phát triển lĩnh vực lao động,...Công văn số 2652 /LĐTBXH-KHTC V/v xây dựng kế hoạch phát triển lĩnh vực lao động,...Công văn số 2638/LĐTBXH-KHTC V/v xây dựng dự toán ngân sách trung ương thực hiện...Công văn số 2637/LĐTBXH-KHTC V/v xây dựng dự toán ngân sách nhà nước năm 2020 và kế...Quyết định số 943/QĐ-LĐTBH về việc phê duyệt kế hoạch mua sắm tài sản và kế hoạch...Công văn số 2510/LĐTBXH-VP V/v thực hiện gửi nhận văn bản điện tử trên trục liên...Công văn số 898/QLLĐNN V/v giới thiệu chức danh và chữ kýKế hoạch số 2464/KH-LĐTBXH Thăm tặng quà nhân kỷ niệm 72 năm ngày Thương binh - Liệt...Công văn số 295/KHLĐ-QLKH V/v tuyển chọn cá nhân, tổ chức chủ trì thực hiện nhiệm vụ...Quyết định số 792/QĐ-LĐTBXH Phê duyệt Kế hoạch triển khai Nghị quyết số 17/NQ-CP...Quyết định số 741/QĐ-LĐTBXH về việc phê duyệt kế hoạch mua sắm tài sản, hàng hóa và...Quyết định số 752/QĐ-LĐTBXH Thành lập Ban soạn thảo xây dung Pháp lệnh Ưu đãi người...Quyết định số 745/QĐ-LĐTBXH Ban hành Kế hoạch thực hiện Đề án "Tăng cường phổ biến,...Quyết định số 736/QĐ-LĐTBXH Ban hành chỉ tiêu giám sát, đánh giá thực hiện Đề án Đào...Công văn số 2068/LĐTBXH-KHTC V/v đôn đốc thực hiện cải cách tài chính công và báo...Công văn số 2002/LĐTBXH-TCCB V/v đăng ký tham gia các khóa bồi dưỡng trung hạn tại...Công văn số 1939/LĐTBXH-TCCB V/v đăng ký tham gia các khóa bồi dưỡng trung hạn năm...Công văn số 190/KL-TTr Việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ, công tác quản lý tài...Quyết định số 673/QĐ-LĐTBXH về việc tổ chức lớp tập huấn "Ứng dụng công nghệ thông...Công văn 1894/LĐTBXH-KHTC v/v thông báo thực hiện văn bản mới ban hànhCông văn số 1882/LĐTBXH-TCCB V/v triệu tập tham dự lớp tập huấn "Ứng dung công nghệ...Quyết định số 655/QĐ-LĐTBXH Phê duyệt Kế hoạch triển khai Đề án Hệ tri thức Việt số...Công văn số 1851/LĐTBXH-BTXH V/v góp ý dự thảo Quyết định chỉ đạo tuyến ngành Lao...Thông báo số 1826/TB-LĐTBXH Kết luận của Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã...Công văn số 1789/LĐTBXH-VP V/v góp ý Quyết định phê duyệt Kế hoạch hành động của Bộ...Công văn số 196/VP-TĐKT v/v đề cử xét tặng Giải thưởng Phụ nữ Việt nam năm 2019Công văn số 194/VP-CCHC v/v đóng góp ý kiến vào Dự thảo Quyết định ban hành Quy chế...