Cần cú huých mang tính chất đột phá đối với chính sách an sinh của vùng dân tộc thiểu số và miền núi, vùng có điều kiện đặc biệt khó khăn

Ngày cập nhật: 10-07-2019

Bộ trưởng Đào Ngọc Dung đề nghị các đơn vị vào cuộc quyết liệt trong triển khai an sinh xã hội tại vùng DTTS, MN
Chiều ngày 10/7/2019, tại Trụ sở Bộ LĐ-TBXH, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội phối hợp với Ủy ban Dân tộc tổ chức Hội nghị Triển khai công tác phối hợp về phát triển kinh tế- xã hội vùng dân tộc thiểu số và miền núi (Vùng DTTS,MN), vùng có điều kiện đặc biệt khó khăn. Bộ trưởng Bộ LĐ-TBXH Đào Ngọc Dung và Bộ trưởng, Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc Đỗ Văn Chiến đồng chủ trì Hội nghị. Tham dự Hội nghị có Lãnh đạo các đơn vị trực thuộc Ủy ban Dân tộc và Bộ LĐ-TBXH.

Thời gian qua, Bộ Lao động - thương binh và Xã hội phối hợp với Ủy ban dân tộc đã phối hợp có hiệu quả trong công tác tham mưu cho Đảng, Nhà nước, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành nhiều chính sách về lao động, người có công và xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, vùng đặc biệt khó khăn giai đoạn 2016-2018. Trong đó phải kể đến một số chính sách đặc thù như: Chính sách giảm nghèo bền vững; hỗ trợ đào tạo nghề, phát triển nguồn nhân lực vùng đồng bào dân tộc thiểu số- miền núi; bảo trợ xã hội; bảo vệ chăm sóc trẻ em…nâng cao đời sống người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số- miền núi. Nhờ vậy, trong giai đoạn 2015-2018, tỷ lệ hộ nghèo bình quân cả nước giảm 1,55%/năm (vượt mục tiêu đề ra giảm 1 đến 1,5%/năm); tỷ lệ hộ nghèo tại các huyện nghèo giảm 5,55%/năm (vượt mục tiêu đề ra giảm 4%/năm). Bình quân tỷ lệ hộ nghèo ở các xã đặc biệt khó khăn, vùng bãi ngang ven biển và hải đảo, các xã đặc biệt khó khăn, xã biên giới, xã an toàn khu vùng dân tộc và miền núi giảm khoảng 3 đến 4%.

Tại Hội nghị, ông Bùi Văn Lịch, Vụ trưởng Vụ Chính sách dân tộc, Ủy ban Dân tộc đã trình bày báo cáo nội dung “Đề án về phát triển phát triển kinh tế- xã hội vùng dân tộc thiểu số và miền núi, vùng có điều kiện đặc biệt khó khăn giai đoạn 2021-2025”. Theo đó, nước ta có 53 dân tộc thiểu số với 3,04 triệu hộ, 13,38 triệu người, cư trú thành cộng đồng ở 51 tỉnh, thành phố, 548 huyện, 5266 đơn vị hành chính cấp xã, trong đó có 382 xã biên giới. Địa bàn cư trú chủ yếu ở vùng Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ và Tây Duyên hải miền Trung, chiếm 3/4 diện tích cả nước. Đây là vùng có nhiều tài nguyên khoáng sản, có hệ sinh thái động, thực vật đa dạng; nơi có trên 14 triệu ha rừng, là đầu nguồn sinh thủy, gắn với các công trình thủy điện quốc gia vừa cung cấp điện, vừa cung cấp nước sản xuất, sinh hoạt cho vùng hạ du và khu vực đồng bằng.

Bộ trưởng, Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc Đỗ Văn Chiến cho rằng cần những giải pháp quyết liệt và sự chung tay của các đơn vị liên quan để đảm bảo được an sinh cho đồng bào DTTS

Trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng - an ninh, Đảng và Nhà nước ta đã xác định vùng DTTS&MN khu vực Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ và Tây Duyên hải Miền trung là những khu vực trọng yếu, giữ vị trí chiến lược quan trọng của đất nước. Tuy nhiên, hiện nay vùng DTTS&MN vẫn là vùng khó khăn nhất của cả nước. Trong tổng số 5.266 xã vùng DTTS&MN có tới 1.957 xã khu vực III và 20.139 thôn, bản ngoài xã khu vực III thuộc diện đặc biệt khó khăn; ngoài ra còn có 291 xã bãi ngang ven biển và hải đảo vào diện đầu tư đặc biệt khó khăn. Cơ sở hạ tầng kỹ thuật còn thấp kém, chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội. Đồng bào các DTTS được tiếp cận và hưởng thụ các dịch vụ xã hội cơ bản ở mức rất thấp so với bình quân chung cả nước. Vùng DTTS&MN đã và đang là “lõi nghèo của cả nước”: Thu nhập bình quân đầu người của DTTS chỉ bằng khoảng 30% so với bình quân chung cả nước. Dân số DTTS chiếm 14,6% dân số cả nước nhưng tỷ lệ hộ nghèo chiếm 56,84% hộ nghèo của cả nước. Một số nhóm DTTS có tỷ lệ hộ nghèo đang ở mức rất cao lên đến 70 - 80%.

 Chính sách hỗ trợ phát triển KT-XH vùng DTTS&MN mặc dù đã đạt được nhiều thành tựu, nhưng còn nhiều đầu mối xây dựng quản lý, theo dõi chính sách; nguồn lực phân tán, dàn trải, chưa phân định rõ trách nhiệm của các cấp, các ngành nên hiệu quả sử dụng vốn đầu tư thấp, đòi hỏi phải đổi mới chính sách đầu tư phát triển KT-XH cho vùng DTTS, MN và vùng KT-XH đặc biệt khó khăn. Đặc biệt về công tác giảm nghèo bền vững, cùng với việc triển khai Chương trình MTQG về giảm nghèo, các cấp, các ngành và cả hệ thống chính trị đã nỗ lực cao độ cho công tác giảm nghèo ở vùng DTTS,MN, tổ chức thực hiện hiệu quả các chính sách giảm nghèo như hỗ trợ về y tế, giáo dục đào tạo, tín dụng ưu đãi, trợ giúp pháp lý, ...

Trong nội dung Đề án đã nêu về việc tiếp tục triển khai đồng bộ công tác giáo dục nghề nghiệp, tạo việc làm cho người dân tộc thiểu số, định hướng kỹ năng, tạo việc làm mới cho người lao động DTTS. Phân rõ tiêu chí phân định các vùng DTTS, MN và các vùng đặc biệt khó khăn. Đề án cũng đề xuất tích hợp 63 chính sách hiện nay thành 6 nhóm chính sách chính như nâng cao nguồn nhân lực, tạo việc làm, giảm nghèo, nâng cao thu nhập ....

Thứ trưởng Lê Quân góp ý về công tác đào tạo  nghề hướng tới tạo việc làm, sinh kế của người dân, đồng thời phát triển bảo hiểm xã hội tự nguyện, gói bảo hiểm đa tầng, lồng ghép bảo hiểm xã hội với chính sách an sinh của đồng bào dân tộc thiểu số

Tại Hội nghị, các đại biểu đã tập trung góp ý để Đề án được tốt hơn, một số đại biểu cho rằng khắc phục điều kiện giao thông của địa phương để thúc đẩy sản xuất, kinh tế của các vùng DTTS, MN, tạo tiền đề cho sự phát triển của địa phương. Đồng thời nhấn mạnh tới một số thế mạnh của các Vùng DTTS, MN, các đại biểu cho rằng vùng đồng bào dân tộc có nhiều điều kiện tiềm năng để phát triển kinh tế xã hội vậy cần tìm hướng đi phù hợp để phát triển những khả năng sẵn có của đồng bào dân tộc nhằm tạo nguồn bền vững.  

 Bên cạnh đó, các đại biểu cũng lưu ý về việc xây dựng tiêu chí xác định các địa bàn cần theo phương án mở, để tránh bị bỏ sót các vùng dân tộc thiểu số trên toàn quốc.  

Các đại biểu cũng tập trung trao đổi về vấn đề đào tạo nghề, tạo việc làm, thu hút nguồn lực, thu hút đầu tư, đào tạo cần gắn thực tiễn, đáp ứng yêu cầu của các doanh nghiệp cơ quan tổ chức, định hướng đào tạo kỹ năng cho người lao động ở vùng DTTS, hỗ trợ doanh nghiệp thu hút lao động (như hỗ trợ vốn, hỗ trợ tuyển dụng, hỗ trợ đào tạo,...

Thứ trưởng Lê Tấn Dũng lưu ý về việc xây dựng tiêu chí xác định các địa bàn cho phù hợp, tránh tình trạng cào bằng giữa các khu vực

Bộ trưởng Đào Ngọc Dung cho rằng cần cú huých có tính chất đột phá thì mới có thể rút ngắn khoảng cách giữa vùng DTTS, MN với các vùng phát triển. Bộ trưởng cho rằng Đề án cần làm rõ đây là vấn đề cần phải đầu tư để phát triển chứ không phải chính sách hỗ trợ. Mục tiêu cụ thể cần đưa một số định hướng để có tầm nhìn đến nằm 2030 khi Việt Nam thoát khỏi thu nhập trung bình thấp phát triển lên thành nước có thu nhập trung bình cao.  Bộ trưởng cũng kêu gọi các đơn vị thay đổi tư duy, nhận thức về giáo dục nghề nghiệp, đảm bảo việc làm ổn định cho lao động DTTS.

Bộ trưởng nhấn mạnh các chỉ tiêu về an sinh cần thúc đẩy hơn nữa hướng tới chất lượng an sinh chứ không phải danh nghĩa. Điều quan trọng là chất lượng thụ hưởng của người dân thế nào. Có thể hướng đến phương án, tăng tỷ lệ hỗ trợ kích thích bảo hiểm tự nguyện ở các khu vực miền núi và rút ngắn thời gian đóng bảo hiểm. Chú trọng hơn về tính an sinh, phát triển bao trùm để mọi người đều được thụ hưởng những chính sách này, đảm bảo không để ai bị bỏ lại phía sau,  phải coi Đề án này là trọng tâm, đột phá, “chạy” song song với 2 chương trình Mục tiêu Quốc gia về giảm nghèo và xây dựng nông thôn mới.

Bộ trưởng Đào Ngọc Dung đánh giá cao vai trò, tầm quan trọng của Đề án đối với sự phát triển của vùng DTTS và miền núi. Bộ trưởng cho rằng, Đề án đã tổng hợp khối lượng thông tin rất lớn, chính xác, khoa học về thành tựu, hiện trạng, khó khăn của cộng đồng các DTTS trong giảm nghèo và phát triển bền vững... Do vậy, việc xây dựng Đề án tổng thể đầu tư phát triển kinh tế - xã hội vùng DTTS và kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn là rất cần thiết. Qua đó xác định mục tiêu cụ thể, giải pháp đột phá để thúc đẩy phát triển toàn diện vùng này, thu hẹp dần khoảng cách với các vùng phát triển.
Cùng với đó, Bộ trưởng cũng cho rằng, tỷ lệ hộ nghèo giảm 3 - 4%/năm thì phải nêu rõ theo tiêu chí nào và nên lấy tiêu chí 2016 - 2020 để xác định. Bộ trưởng cũng lưu ý về phạm vi của đối tượng điều chỉnh cần phân định rõ: Thứ nhất là vùng, địa bàn; thứ hai là con người. Phải làm rõ được 2 cái này.
Song song với đó, Bộ trưởng nhấn mạnh cần quan tâm kết nối, chia sẻ cơ sở dữ liệu, nhất là những vấn đề liên quan đến giảm nghèo. “Có cơ sở dữ liệu kết nối rồi, điều chỉnh chính sách rất dễ. Nhưng rõ ràng hiện nay chúng ta chưa làm được”, Bộ trưởng nói.
Và cuối cùng, Bộ trưởng kiến nghị, trong Đề án này, nếu có thể, trong định hướng tầm nhìn 2030, nên có 1 tầm nhìn mang tính chiến lược đối với dân tộc miền núi. Đó là làm cuộc "cách  mạng" về tái định cư dân cư. Nếu như vùng đồng bào DTTS - nhất là phía Bắc, nếu không làm một cuộc cách mạng về tái định cư thì rất khó khăn trong đầu tư.
“Chúng ta không thể đầu tư được một con đường hay một đường điện nếu như mỗi gia đình vẫn nằm trên 1 con núi như hiện nay. Tất nhiên, các vấn đề khác như bản sắc văn hóa… thì vẫn phải quan tâm”, Bộ trưởng lưu ý.



Chánh Văn phòng Quốc gia về giảm nghèo (Bộ LĐ-TBXH) Ngô Trường Thi tham gia góp ý Đề án

Kết thúc Hội nghị, Bộ trưởng, Chủ nhiệm Đỗ văn Chiến đánh giá cao các ý kiến trao đổi, thảo luận của các đại biểu. Ông Chiến cho rằng, các ý kiến rất thiết thực, xác đáng, có nhiều sáng kiến, đề xuất mới, điều đó thể hiện sự tâm huyết với đồng bào DTTS và miền núi.
Để nêu bật tầm quan trọng của việc đầu tư phát triển cho vùng DTTS - miền núi, ông Chiến viện dẫn lời của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc khi nói về công tác giảm nghèo: “Đàn chim bay nhanh, bay chậm không chỉ do con chim đầu đàn quyết định, mà còn phụ thuộc vào con chim cuối đàn”.
Theo đó, ông Chiến ví von, chúng tôi xin nguyện làm con chim cuối đàn, cố gắng vượt lên chính mình để bay nhanh, bay xa, để làm được điều đó, cần sự chung tay của các cấp, ngành…
Thông điệp thứ 2 mà Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc nói, chúng ta không thể quan niệm hỗ trợ phát triển kinh tế xã hội vùng DTTS - miền núi nữa, mà quay trở về coi DTTS - miền núi là đối tác của vùng phát triển”, Bộ trưởng, Chủ nhiệm Đỗ Văn Chiến nhấn mạnh.

Ông Đỗ Văn Chiến, Bộ trưởng, Chủ nhiệm Ủy ban dân tộc cho biết Ban soạn thảo Đề án sẽ tiếp thu các ý kiến đóng góp từ phía Bộ LĐ-TBXH để hoàn thiện Dự thảo Đề án Phát triền kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số và miền núi, vùng có điều kiện đặc biệt khó khăn giai đoạn 2021 – 2025, dự kiến trình Quốc hội xem xét, cho ý kiến tại kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa 14.

 

Mục tiêu cụ thể đến năm 2025 của “Đề án tổng thể đầu tư phát triển KT-XH vùng DTTS, miền núi và vùng KT-XH đặc biệt khó khăn giai đoạn 2021 - 2025”:
Tốc độ tăng trưởng kinh tế của các tỉnh trong vùng DTTS, miền núi từ 8 đến 10%/năm (cao hơn mức bình quân cả nước).
Đến năm 2025 thu nhập bình quân của người DTTS tăng gấp 2 lần.
Tỷ lệ nghèo hàng năm giảm 3 - 4%/năm.
Giảm 30% số xã đặc biệt khó khăn; 50% số thôn vùng đặc biệt khó khăn so với năm 2019.
Tỷ lệ lao động qua đào tạo trên 50%, lao động đến tuổi có việc làm thu nhập ổn định trên 80%.
Trên 90% số xã có đường ô tô được nhựa hóa; trên 80% hộ gia đình được sử dụng nước hợp vệ sinh…
 

 

Tìm theo ngày

Đánh giá

(Di chuột vào ngôi sao để chọn điểm)
   refresh capcha

Văn bản Chỉ đạo điều hành

Công văn số 2701/LĐTBXH-TCCB V/v Triệu tập tham dự lớp "Công tác truyền thông trong...Công văn số 2675 /LĐTBXH-KHTC V/v Xây dựng dự toán ngân sách năm 2020 và kế hoạch...Công văn số 2674 /LĐTBXH-KHTC V/v Báo cáo về biên chế, tiền lương để xây dựng dự...Công văn số 2653 /LĐTBXH-KHTC V/v xây dựng Kế hoạch phát triển lĩnh vực lao động,...Công văn số 2652 /LĐTBXH-KHTC V/v xây dựng kế hoạch phát triển lĩnh vực lao động,...Công văn số 2638/LĐTBXH-KHTC V/v xây dựng dự toán ngân sách trung ương thực hiện...Công văn số 2637/LĐTBXH-KHTC V/v xây dựng dự toán ngân sách nhà nước năm 2020 và kế...Quyết định số 943/QĐ-LĐTBH về việc phê duyệt kế hoạch mua sắm tài sản và kế hoạch...Công văn số 2510/LĐTBXH-VP V/v thực hiện gửi nhận văn bản điện tử trên trục liên...Công văn số 898/QLLĐNN V/v giới thiệu chức danh và chữ kýKế hoạch số 2464/KH-LĐTBXH Thăm tặng quà nhân kỷ niệm 72 năm ngày Thương binh - Liệt...Công văn số 295/KHLĐ-QLKH V/v tuyển chọn cá nhân, tổ chức chủ trì thực hiện nhiệm vụ...Quyết định số 792/QĐ-LĐTBXH Phê duyệt Kế hoạch triển khai Nghị quyết số 17/NQ-CP...Quyết định số 741/QĐ-LĐTBXH về việc phê duyệt kế hoạch mua sắm tài sản, hàng hóa và...Quyết định số 752/QĐ-LĐTBXH Thành lập Ban soạn thảo xây dung Pháp lệnh Ưu đãi người...Quyết định số 745/QĐ-LĐTBXH Ban hành Kế hoạch thực hiện Đề án "Tăng cường phổ biến,...Quyết định số 736/QĐ-LĐTBXH Ban hành chỉ tiêu giám sát, đánh giá thực hiện Đề án Đào...Công văn số 2068/LĐTBXH-KHTC V/v đôn đốc thực hiện cải cách tài chính công và báo...Công văn số 2002/LĐTBXH-TCCB V/v đăng ký tham gia các khóa bồi dưỡng trung hạn tại...Công văn số 1939/LĐTBXH-TCCB V/v đăng ký tham gia các khóa bồi dưỡng trung hạn năm...Công văn số 190/KL-TTr Việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ, công tác quản lý tài...Quyết định số 673/QĐ-LĐTBXH về việc tổ chức lớp tập huấn "Ứng dụng công nghệ thông...Công văn 1894/LĐTBXH-KHTC v/v thông báo thực hiện văn bản mới ban hànhCông văn số 1882/LĐTBXH-TCCB V/v triệu tập tham dự lớp tập huấn "Ứng dung công nghệ...Quyết định số 655/QĐ-LĐTBXH Phê duyệt Kế hoạch triển khai Đề án Hệ tri thức Việt số...Công văn số 1851/LĐTBXH-BTXH V/v góp ý dự thảo Quyết định chỉ đạo tuyến ngành Lao...Thông báo số 1826/TB-LĐTBXH Kết luận của Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã...Công văn số 1789/LĐTBXH-VP V/v góp ý Quyết định phê duyệt Kế hoạch hành động của Bộ...Công văn số 196/VP-TĐKT v/v đề cử xét tặng Giải thưởng Phụ nữ Việt nam năm 2019Công văn số 194/VP-CCHC v/v đóng góp ý kiến vào Dự thảo Quyết định ban hành Quy chế...
Công văn số 2701/LĐTBXH-TCCB V/v Triệu tập tham dự lớp "Công tác truyền thông trong...Công văn số 2675 /LĐTBXH-KHTC V/v Xây dựng dự toán ngân sách năm 2020 và kế hoạch...Công văn số 2674 /LĐTBXH-KHTC V/v Báo cáo về biên chế, tiền lương để xây dựng dự...Công văn số 2653 /LĐTBXH-KHTC V/v xây dựng Kế hoạch phát triển lĩnh vực lao động,...Công văn số 2652 /LĐTBXH-KHTC V/v xây dựng kế hoạch phát triển lĩnh vực lao động,...Công văn số 2638/LĐTBXH-KHTC V/v xây dựng dự toán ngân sách trung ương thực hiện...Công văn số 2637/LĐTBXH-KHTC V/v xây dựng dự toán ngân sách nhà nước năm 2020 và kế...Quyết định số 943/QĐ-LĐTBH về việc phê duyệt kế hoạch mua sắm tài sản và kế hoạch...Công văn số 2510/LĐTBXH-VP V/v thực hiện gửi nhận văn bản điện tử trên trục liên...Công văn số 898/QLLĐNN V/v giới thiệu chức danh và chữ kýKế hoạch số 2464/KH-LĐTBXH Thăm tặng quà nhân kỷ niệm 72 năm ngày Thương binh - Liệt...Công văn số 295/KHLĐ-QLKH V/v tuyển chọn cá nhân, tổ chức chủ trì thực hiện nhiệm vụ...Quyết định số 792/QĐ-LĐTBXH Phê duyệt Kế hoạch triển khai Nghị quyết số 17/NQ-CP...Quyết định số 741/QĐ-LĐTBXH về việc phê duyệt kế hoạch mua sắm tài sản, hàng hóa và...Quyết định số 752/QĐ-LĐTBXH Thành lập Ban soạn thảo xây dung Pháp lệnh Ưu đãi người...Quyết định số 745/QĐ-LĐTBXH Ban hành Kế hoạch thực hiện Đề án "Tăng cường phổ biến,...Quyết định số 736/QĐ-LĐTBXH Ban hành chỉ tiêu giám sát, đánh giá thực hiện Đề án Đào...Công văn số 2068/LĐTBXH-KHTC V/v đôn đốc thực hiện cải cách tài chính công và báo...Công văn số 2002/LĐTBXH-TCCB V/v đăng ký tham gia các khóa bồi dưỡng trung hạn tại...Công văn số 1939/LĐTBXH-TCCB V/v đăng ký tham gia các khóa bồi dưỡng trung hạn năm...Công văn số 190/KL-TTr Việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ, công tác quản lý tài...Quyết định số 673/QĐ-LĐTBXH về việc tổ chức lớp tập huấn "Ứng dụng công nghệ thông...Công văn 1894/LĐTBXH-KHTC v/v thông báo thực hiện văn bản mới ban hànhCông văn số 1882/LĐTBXH-TCCB V/v triệu tập tham dự lớp tập huấn "Ứng dung công nghệ...Quyết định số 655/QĐ-LĐTBXH Phê duyệt Kế hoạch triển khai Đề án Hệ tri thức Việt số...Công văn số 1851/LĐTBXH-BTXH V/v góp ý dự thảo Quyết định chỉ đạo tuyến ngành Lao...Thông báo số 1826/TB-LĐTBXH Kết luận của Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã...Công văn số 1789/LĐTBXH-VP V/v góp ý Quyết định phê duyệt Kế hoạch hành động của Bộ...Công văn số 196/VP-TĐKT v/v đề cử xét tặng Giải thưởng Phụ nữ Việt nam năm 2019Công văn số 194/VP-CCHC v/v đóng góp ý kiến vào Dự thảo Quyết định ban hành Quy chế...