Quyền chấm dứt hợp đồng lao động khi người lao động đủ điều kiện hưởng lương hưu

Ngày cập nhật: 07-11-2017
anhminhhoa

Ông Lê Ngọc Huynh - phường 16, quận Gò Vấp, TPHCM hỏi: Hiện nay, căn cứ điều kiện hưởng lương hưu được quy định tại Điểm b, Khoản 1, Điều 54 của Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014, đơn vị chúng tôi cho rằng có quyền chấm dứt hợp đồng lao động với người lao động (NLĐ) đủ điều kiện hưởng lương hưu mà không cần có sự thoả thuận – dựa theo ý kiến tư vấn của Luật sư như sau:

1. Các văn bản hướng dẫn thi hành Luật BHXH 2014 như Nghị định số 115/2015/NĐ-CP ngày 11/11/2015 quy định chi tiết một số điều của Luật BHXH và BHXH bắt buộc; Thông tư số 59/2015/TT-BLĐTBXH ngày 29/12/2015 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật BHXH và BHXH bắt buộc cũng đều hướng dẫn mốc tính tuổi nghỉ hưu trong trường hợp này là đủ 55 tuổi (nam) và đủ 50 tuổi (nữ)

2. Chỉ cần khi NLĐ làm công việc nặng nhọc, độc hại nguy hiểm đạt đến độ tuổi tối thiểu để tính tuổi nghỉ hưu (đủ 55 tuổi đối với nam; đủ 50 tuổi đối với nữ) và đáp ứng điều kiện về thời gian đóng BHXH thì Quý Công ty có quyền chấm dứt hợp đồng lao động mà không cần phải có sự thoả thuận với NLĐ (căn cứ Khoản 4, điều 36, Khoản 2, Điều 187 Bộ luật Lao động  2012, Điểm b, Khoản 1, Điều 54 Luật BHXH 2014).

3. Điều kiện để chấm dứt hợp đồng lao động đối với những NLĐ làm nghề nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm (có 2 điều kiện):

a) Điều kiện thứ nhất: NLĐ có đủ 20 năm đóng BHXH trở lên.

b) Điều kiện thứ hai:

+ NLĐ nam từ đủ 55 tuổi đến đủ 60 tuổi, nữ từ đủ 50 tuổi đến đủ 55 tuổi; và

+ NLĐ có 15 năm làm nghề hoặc công việc nặng nhọc độc hại, nguy hiểm.

4. Khi chấm dứt hợp đồng lao động, Quý Công ty phải bảo đảm tuân thủ trách nhiệm của người sử dụng lao động theo quy định tại Điều 47, Bộ luật Lao động 2012;

5. Trường hợp NLĐ tiếp tục làm việc sau độ tuổi được quy định tại Điều 187 Bộ luật Lao động 2012, họ sẽ được xác định là người lao động cao tuổi. Theo Điều 167 Bộ luật Lao động 2012, khi có nhu cầu, người sử dụng lao động có thể thỏa thuận với NLĐ cao tuổi có đủ sức khỏe kéo dài thời gian lao động hoặc giao kết hợp đồng lao động mới. Tuy nhiên, người sử dụng lao động không được sử dụng NLĐ cao tuổi làm những công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm có ảnh hưởng xấu tới sức khỏe NLĐ cao tuổi...”.

Tôi đọc trong Bộ luật Lao động 2012 thì quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người sử dụng lao động với các nội dung chi tiết chỉ được quy định tại Điều 38, ngoài ra sẽ là đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái luật (Điều 41).

Như vậy, xin cho tôi hỏi: Quyền chấm dứt hợp đồng lao động theo ý kiến tư vấn của luật sư như trên có đúng quy định pháp luật không? Nếu đúng, thì quyền lợi của NLĐ trong trường hợp này đuợc pháp luật bảo vệ như thế nào?

Nếu không đúng, thì đây có phải là đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái luật không?

Nếu bị đơn phương chấm dứt HĐLĐ như vậy, thì người lao động phải làm gì để tự bảo vệ mình? Hoặc để được cơ quan nào bảo vệ quyền lợi?

Vì việc này ảnh hưởng đến hàng trăm lao động. Rất mong sớm nhận được phúc đáp của quý cơ quan.

Vấn đề này, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội trả lời như sau:

a) Theo quy định tại Khoản 4, Điều 36 Bộ luật Lao động thì hợp đồng lao động chấm dứt khi người lao động đủ điều kiện về thời gian đóng bảo hiểm xã hội và tuổi hưởng lương hưu theo quy định tại Điều 187 Bộ luật Lao động.

b) Theo Khoản 1 và Khoản 2, Điều 187 Bộ luật Lao động thì người lao động bảo đảm điều kiện về thời gian đóng bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội được hưởng lương hưu khi nam đủ 60 tuổi, nữ đủ 55 tuổi. Đối với người lao động làm công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm; làm công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm thuộc danh mục do Chính phủ quy định có thể nghỉ hưu ở tuổi thấp hơn so với quy định tại Khoản 1 Điều này (thấp hơn 60 tuổi đối với nam, 55 tuổi đối với nữ). 

c) Theo quy định tại Điểm b, Khoản 1, Điều 54 Luật Bảo hiểm xã hội thì người lao động nam từ đủ 55 tuổi đến dưới 60 tuổi, nữ từ đủ 50 tuổi đến dưới 55 tuổi có đủ 20 năm đóng bảo hiểm xã hội và có đủ 15 năm làm công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm thuộc danh mục do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Y tế ban hành hoặc có đủ 15 năm làm việc ở nơi có phụ cấp khu vực hệ số 0,7 trở lên thì đủ điều kiện nghỉ việc hưởng lương hưu.

d) Theo quy định tại Điều 47 Bộ luật Lao động thì trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động, hai bên có trách nhiệm thanh toán đầy đủ các khoản có liên quan đến quyền lợi của mỗi bên; trường hợp đặc biệt, có thể kéo dài nhưng không được quá 30 ngày. Người sử dụng lao động có trách nhiệm hoàn thành thủ tục xác nhận và trả lại sổ bảo hiểm xã hội và những giấy tờ khác mà người sử dụng lao động đã giữ lại của người lao động.

Như vậy, trường hợp người lao động nam từ đủ 55 tuổi đến dưới 60 tuổi, nữ từ đủ 50 tuổi đến dưới 55 tuổi có đủ 20 năm đóng bảo hiểm xã hội và có đủ 15 năm làm công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm thuộc danh mục do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Y tế ban hành hoặc có đủ 15 năm làm việc ở nơi có phụ cấp khu vực hệ số 0,7 trở lên thì đủ điều kiện nghỉ việc hưởng chế độ hưu trí và thuộc trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại Khoản 4, Điều 36 Bộ luật Lao động. Khi chấm dứt hợp đồng lao động, người sử dụng lao động và người lao động có trách nhiệm thực hiện theo quy định tại Điều 47 Bộ luật Lao động.

 

Tìm theo ngày

Đánh giá

(Di chuột vào ngôi sao để chọn điểm)