Header
Chuyển bộ gõ
vsfo
Bảo hiểm thất nghiệp
Trung tâm lao động ngoài nước
Danh bạ thư điện tử
Bàn về phát triển và quản lý lĩnh vực xã hội
Cập nhật ngày: 03/01/2012

Chiến lược phát triển kinh tế- xã hội 2011 - 2020 được thông qua tại Đại hội XI của Đảng xác định phải “thực hiện có hiệu quả tiến bộ và công bằng xã hội, bảo đảm an sinh xã hội trong từng bước và từng chính sách phát triển”. Để triển khai, thực hiện yêu cầu này của Đại hội XI của Đảng, trước tiên cần thiết phải làm rõ vấn đề phát triển lĩnh vực xã hội và quản lý.

 Về “phát triển xã hội”

Ở Việt Nam, thuật ngữ “xã hội” là để chỉ chung về xã hội theo cả nghĩa hẹp và nghĩa rộng. Còn trong ngôn ngữ nhiều nước châu Âu, mỗi nghĩa hẹp và rộng như vậy có riêng một thuật ngữ để xác định; thí dụ trong tiếng Anh “sociality” là xã hội theo nghĩa hẹp, còn “society”  là xã hội theo nghĩa rộng.

Dù theo nghĩa hẹp hay rộng thì đối với C.Mác, “xã hội  không phải gồm các cá nhân, mà xã hội biểu hiện tổng số những mối liên hệ và những quan hệ của các cá nhân đối với nhau”. Việc tiếp cận xã hội, dù ở nghĩa rộng hay nghĩa hẹp cũng đều chú ý hai phương diện: “tĩnh” với tính cách là một dạng vận động trong cân bằng của số lượng và chất lượng, và “động” nhằm chỉ trạng thái phát triển về chất. Ở dạng tĩnh, xã hội theo nghĩa rộng gồm Nhà nước pháp quyền và xã hội công dân (xã hội dân sự); và ở dạng vận động, xã hội theo nghĩa rộng trong quá trình phát triển được khái quát một cách điển hình là các hình thái kinh tế - xã hội, mà dịch đúng phải là hình thái xã hội có tính kinh tế - xã hội; (tiếng Đức là die sozialokonomische Gesellschaftsformation).

Quản lý sự phát triển lĩnh vực xã hội vốn là nơi tập trung và thể hiện rõ nhất các quan hệ người - người

Hồ Chí Minh, vào năm 1943, khi đề xuất chương trình xây dựng nền văn hoá mới Việt Nam, quan niệm xã hội theo nghĩa rộng gồm 4 lĩnh vực tương tác nhau là văn hóa (tâm lý, luân lý), xã hội, chính trị và kinh tế. Trong đó, xã hội theo nghĩa hẹp là các hoạt động và quan hệ xã hội liên quan đến phúc lợi (hay an sinh xã hội) của con người.

Các nhà xã hội học hiện đại ở phương Tây khi định nghĩa khái niệm “xã hội” theo nghĩa hẹp cũng không thể không nhấn mạnh hàm nghĩa cơ bản của nó  là: sản phẩm và là tổng hòa  những mối quan hệ của các cá nhân với nhau. Thí dụ nhà xã hội học người Đức  Ferdinand Tonnies (1855-1936) lần đầu tiên đưa ra  khái niêm “cộng đồng” - Gemaischaft và “xã hội” - Gesellschaft  để chỉ xã hội là kiểu hiệp hội phát sinh từ xã hội kiểu cộng đồng. Nhà xã hội học Đức G.Simmel (1858-1918) cho rằng, xã hội vừa tồn tại ngoài cá nhân, ngoài nhóm người, vừa thông qua sự tương tác xã hội và hành động có ý thức của các cá nhân. Do đó, cần phân tích cả cá nhân và nhóm người. Nhà xã hội học Anh, A.Giddens (sinh năm 1938), trong sách giáo khoa “Sociology” - Xã hội học, xuất bản năm 1997,  định nghĩa:  Một xã hội là một nhóm người chung sống trên cùng một lãnh thổ nhất định, họ là chủ thể của một hệ thống quyền lực chính trị, họ ý thức rõ về bản sắc của nhóm mình trong sự phân biệt với các nhóm người khác.

Nhưng để phát triển xã hội theo nghĩa rộng, thì trước tiên và cơ bản phải tiếp cận phương diện (hay khía cạnh hoặc lĩnh vực) xã hội của sự phát triển; tức là xã hội theo nghĩa hẹp. Quan niệm về phương diện xã hội của đời sống xã hội, đương nhiên cũng không tách rời những con ngư¬ời và các cộng đồng người với các quan hệ và hoạt động của họ trên cùng một lãnh thổ nhất định, trong cùng một thể chế luật pháp, chính trị, một nền kinh tế và văn hóa nhất định. Sự phát triển các quan hệ và hoạt động đó diễn ra trong mối t¬ương tác với phát triển kinh tế, chính trị, văn hoá, giữ vững an ninh - quốc phòng, bảo vệ môi trường và hội nhập quốc tế, đặc biệt trước sự tác động của các quá trình toàn cầu hoá như hiện nay.

Quan niệm về xã hội, dù theo nghĩa hẹp hay nghĩa rộng, về nguyên tắc, đều phải gắn với phát triển. Thuật ngữ “phát triển xã hội” được thế giới quan tâm từ  khoảng giữa những năm 1990, cụ thể từ sau Hội nghị thượng đỉnh phát triển xã hội (năm 1995), và hội nghị Bắc Kinh (năm 2000), nhất là sau khi có văn kiện Tầm nhìn thiên niên kỷ mới của Liên hợp quốc (2001).  Cho đến nay, khi bàn về khái niệm “phát triển xã hội”  trong giới nghiên cứu Việt Nam có ba quan niệm khác nhau: a) phát triển xã hội đồng nghĩa với tăng trưởng kinh tế  và sự phát triển khoa học, công nghệ; b) phát triển xã hội là sự phát triển của cá nhân và tổ chức xã hội mà cá nhân đó đang sống; c) phát triển xã hội là sự phát triển tổng hợp đời sống vật chất và tinh thần của cá nhân và cộng đồng.

Tán thành với loại quan niệm thứ ba, chúng tôi cho rằng phát triển xã hội  không chỉ thuần túy là sự phát triển của riêng lĩnh vực xã hội, mà là sự phát triển đồng thời của  phương diện xã hội thuộc các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội (kinh tế, chính trị, giáo dục, văn hóa, y tế, môi trư¬ờng, an ninh, quốc phòng và hội nhập quốc tế,...) nhằm bảo đảm cho con người được phát triển toàn diện và xã hội phát triển bền vững. Chỉ báo đánh giá sự phát triển xã hội cơ bản là sự vận động lên một chất lượng mới cao hơn của nền sản xuất xã hội, mà theo quan niệm C.Mác và Ph. Ăngghen trong Hệ tư tưởng Đức (1845), gồm: sản xuất vật chất, sản xuất tinh thần, sự tái sản sinh các thế hệ người, sự phát triển nhu cầu và  phát triển ý thức (kiến thức) của con người. Đây là một phức hợp 5 loại chỉ báo, cho nên để đạt được sự phát triển xã hội, không thể không quản lý quá trình phát triển này.  

Về “quản lý phát triển xã hội”

Khái niệm phát triển xã hội luôn bao hàm trong nó nội hàm quản lý. Quản lý phát triển xã hội  gồm hai thành tố: hệ thống tổ chức bộ máy quản lý và cơ chế quản lý. Hệ thống tổ chức bộ máy quản lý thuộc chủ thể quản lý; còn cơ chế quản lý là phương thức vận hành của  hệ thống tổ chức bộ máy quản lý nhằm tác động vào đối tượng (khách thể) quản lý.

Thuật ngữ “quản lý” được hiểu là quá trình chủ thể tác động vào khách thể để điều khiển quá trình vận động của khách thể nhằm đạt đ¬ược mục đích của chủ thể. Với hàm nghĩa như vậy, “quản lý phát triển xã hội” được coi là hoạt động lập kế hoạch (chiến lược, chương trình,...) và kiểm soát, điều tiết, thúc đẩy các  quan hệ, hoạt động và quá trình xã hội để bảo đảm và thực hiện kế hoạch đã đề ra, nhằm thúc đấy xã hội phát triển lên một chất lượng mới, cao hơn.

Chủ thể quản lý xã hội là Nhà nước và các tổ chức ngoài Nhà nước. Đối tượng của quản lý xã hội là các quan hệ, hoạt động và quá trình xã hội của con người, từ quan hệ trong nhóm nhỏ xã hội đến quan hệ giai cấp, quan hệ trong các cộng đồng xã hội khác nhau (dân tộc, tôn giáo, văn hóa,...) với những lợi ích, tâm lý và tập quán  không giống nhau. Chủ thể quản lý xã hội và đối tượng quản lý xã hội luôn  có quan hệ tương tác.

Quản lý xã hội cũng như quản lý các lĩnh vực khác, nhìn chung đều gồm hai thành tố: hệ thống tổ chức bộ máy quản lý và cơ chế quản lý. Hệ thống tổ chức bộ máy quản lý thuộc chủ thể quản lý; còn cơ chế quản lý là phương thức vận hành của  hệ thống tổ chức đó nhằm tác động vào đối tượng quản lý.

Như vậy, quản lý phát triển xã hội, theo nghĩa hẹp của thuật ngữ xã hội, trước tiên là lập kế hoạch (chiến lược, chương trình...) và cách thức tổ chức, điều hành, giám sát việc thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và luật pháp của Nhà nước đối với quá trình phát triển lĩnh vực xã hội nói riêng, và đối với quá trình phát triển các phương diện xã hội thuộc các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội, nhằm đảm bảo cho xã hội phát triển nhanh, bền vững theo hướng tiến bộ, đồng thời đáp ứng ngày càng đầy đủ yêu cầu được phát triển toàn diện của con người. Quản lý sự phát triển lĩnh vực xã hội vốn là nơi tập trung và thể hiện rõ nhất các quan hệ người - người, còn bao hàm cả việc tạo điều kiện để tăng cường các yếu tố thúc đẩy phát triển xã hội cũng như¬ giảm thiểu các yếu tố cản trở sự phát triển xã hội.  Nội dung này của quản lý phát triển xã hội được thể hiện hầu như trong tất cả các vấn đề xã hội.  Báo cáo quốc gia của Chính phủ Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam về phát triển xã hội tại Hội nghị Thượng đỉnh thế giới về phát triển xã hội năm 1995 xác định 10 vấn đề xã hội cần phải được quản lý phát triển hiện nay ở Việt Nam là: (1) Giải quyết việc làm; (2) Xoá đói giảm nghèo; (3); Hoà nhập xã hội; (4) Tăng cường vai trò của gia đình; (5) Phát triển giáo dục; (6) Dân số - kế hoạch hoá gia đình; (7) Chăm sóc sức khoẻ nhân dân; (8) Bảo trợ xã hội; (9) Môi trường; (10) Hạn chế và ngăn ngừa các hành vi phạm tội.


PGS.TS Nguyễn Thanh Tuấn


Ý kiến của bạn Gửi cho bạn bè In bài này Trở lại
Tin theo ngày Xem
Về đầu