Theo báo cáo do ông Đoàn Văn Hòa, Giám đốc Sở Lao động – Thương binh và Xã hội Hưng Yên trình bày, trong 10 năm qua, để triển khai có hiệu quả Chỉ thị số 55-CT/TW của Bộ Chính trị về “Tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy đảng cơ sở với công tác BVCSGD trẻ em”, tỉnh Hưng Yên đã ban hành nhiều chỉ thị, nghị quyết, kế hoạch nhằm tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo trong công tác BVCSGD trẻ em; xây dựng và triển khai chương trình hành động vì trẻ em Hưng Yên giai đoạn 2001 – 2005 và giai đoạn 2006 – 2010.... Qua 10 năm triển khai chương trình, công tác BVCSGD trẻ em đã nhận được sự quan tâm của các cấp ủy, chính quyền trong tỉnh; sự phối hợp thực hiện có trách nhiệm và hiệu quả của các sở, ban ngành đoàn thể; sự hưởng ứng của các gia đình và toàn xã hội. Theo đó, đa số các mục tiêu đã đạt và vượt kế hoạch đề ra.
Toàn tỉnh hiện có 86% số xã, phường, thị trấn đạt chuẩn quốc gia về y tế, 100% số thôn có cán bộ y tế; 99% số trẻ em được tiêm chủng 6 loại vacxin, tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng giảm còn 17%; 97% số trẻ em dưới 6 tuổi được cấp thẻ bảo hiểm y tế. Tỉnh cũng đã triển khai nhiều chương trình, đề án nhằm hỗ trợ giúp đỡ, tạo cho trẻ em sân chơi lành mạnh đặc biệt là trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt. Trong 10 năm qua, Quỹ bảo trợ trẻ em toàn tỉnh đã quyên góp được trên 21 tỷ đồng, kịp thời hỗ trợ những trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt. Trung bình mỗi năm tỉnh hỗ trợ giáo dục, trợ cấp đột xuất cho khoảng 1.500 em; hỗ trợ y tế cho gần 600 em; khám lọc, phẫu thuật, phục hồi chức năng, cấp xe lăn cho khoảng 100 trẻ em khuyết tật; dạy nghề và giới thiệu việc làm cho trên 100 em. Bên cạnh đó, các hoạt động vui chơi, giải trí, các sân chơi để các em tham gia bày tỏ ý kiến và nói lên tiếng nói của mình cũng được quan tâm như tổ chức các khóa đào tạo bồi dưỡng năng khiếu cho trẻ em, các hội thi quyền trẻ em, trại hè, các diễn đàn trẻ em...
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được, công tác BVCSGD trẻ em ở Hưng Yên vẫn còn một số hạn chế như một số xã, phường, thị trấn xây dựng chương trình hành động còn chung chung, chưa xác định rõ nhiệm vụ, mục tiêu cụ thể và giải pháp thực hiện...
Ông Đoàn Văn Hòa cũng trình bày tóm tắt dự thảo Chương trình hành động vì trẻ em Hưng Yên giai đoạn 2011 – 2020. Theo đó, tỉnh sẽ phấn đấu giảm tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng dưới 5 tuổi xuống còn 15% vào năm 2015 và còn 12% vào năm 2020; 100% các huyện, thành phố có điểm vui chơi cho trẻ em và được sử dụng hiệu quả; tăng tỷ lệ xã, phường phù hợp với trẻ em lên 65% vào năm 2015 và 75% năm 2020; trên 90% số trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt được giúp đỡ và chăm sóc; đến năm 2020 sẽ giảm 25% số trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt.
Phát biểu tại Hội nghị, TS.Nguyễn Hải Hữu đã đánh giá cao kết quả công tác BVCSTE ở Hưng Yên thời gian qua với nhiều chỉ tiêu đã và vượt kế hoạch đề ra, một số cao hơn mức trung bình của cả nước. Sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy Đảng được tăng cường. Tuy nhiên, đồng chí cũng lưu ý là Hưng Yên cần phải nỗ lực nhiều hơn trong công tác này, đặc biệt là vấn đề suy dinh dưỡng thể thấp còi ở trẻ, tỷ lệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt của tỉnh còn cao, cán bộ làm công tác BVCS trẻ em còn thiếu. Đồng chí cũng lưu ý trong Chương trình hành động vì trẻ em của tỉnh giai đoạn tới cần bảo đảm được 3 định hướng cơ bản là: Bảo đảm an toàn cho trẻ em, thực hiện quyền của các em và tạo cơ hội phát triển bình đẳng cho mọi trẻ em.
Cũng tại hội nghị, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Khắc Hào cũng chỉ đạo một số nhiệm vụ trọng tâm trong thời gian tới trong công tác này. Đó là: tiếp tục quán triệt và thực hiện nghiêm các chỉ thị của Trung ương và của tỉnh về tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy đảng đối với công tác BVCSGD trẻ em; đẩy mạnh công tác tuyên truyền để các cấp ủy đảng, chính quyền và người dân thấy hết ý nghĩa và tầm quan trọng của công tác này; huy động mọi nguồn lực để hỗ trợ và giúp đỡ trẻ em đặc biệt là trẻ em có hoàn cảnh khó khăn. Đồng thời phối hợp tốt giữa gia đình, nhà trường và xã hội trong công tác BVCSGD trẻ em.
Nhân dịp này, UBND tỉnh Hưng Yên đã tặng bằng khen cho 10 tập thể và 6 cá nhân có thành tích xuất sắc trong công tác bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em giai đoạn 2000 - 2010.