Theo Bà Lotta Sylwander, Trưởng Đại diện UNICEF Việt Nam, đây là bản báo cáo bắt đầu được thực hiện vào năm 2008, tập hợp được nguồn thông tin từ nhiều bộ, ngành, cơ quan, đơn vị của Việt Nam và dựa trên cách tiếp cận về quyền con người.
Báo cáo bao gồm các phần: Bối cảnh phát triển và quản trị của quốc gia; Sự sống còn của trẻ em; Giáo dục và phát triển trẻ em; Bảo vệ trẻ em; Sự tham gia của trẻ em; Kết luận và khuyến nghị.
Theo báo cáo, Việt Nam đã đạt được những thành công nhanh chóng về kinh tế và tiến bộ đáng kể về xã hội chỉ trong hai thập kỷ qua; rõ ràng đã đạt được những tiến bộ lớn cho trẻ em. Tuy nhiên vẫn còn một bộ phận trẻ em và vị thành niên tiếp tục sống trong điều kiện chưa được hưởng quyền và chưa hoà nhập với xã hội. Ví dụ: Chăm sóc y tế có chất lượng, giáo dục trung học và nước sạch. Tình trạng không hoà nhập xã hội do một vài nhân tố gây ra bao gồm sự chênh lệch về kinh tế, bất bình đẳng giới và sự khác biệt đáng kể giữa vùng nông thôn và thành thị, cũng như giữa các vùng địa lý. Người dân tộc thiểu số vẫn là nhóm người nghèo nhất và ít được hưởng lợi nhất từ sự phát triển kinh tế của quốc gia. Nghèo đói khiến một số trẻ em bỏ học, sống lang thang hoặc tham gia vào các hành vi có nguy cơ như làm mại dâm để kiếm sống.
Việt Nam gần đây đã xây dựng cách tiếp cận đa chiều đối với vấn đề trẻ em nghèo dựa vào một số nhóm: Giáo dục, y tế, dinh dưỡng, nơi ở, nước và vệ sinh, lao động trẻ em, giải trí, hoà nhập xã hội và bảo vệ. Sử dụng cách tiếp cận này thì khoảng 1/3 số trẻ em dưới 16 tuổi là nghèo với xấp xỉ 7 triệu em.
Tử vong trẻ em dưới 1 tuổi và trẻ nhỏ đã giảm xuống còn một nửa trong giai đoạn từ năm 1990 – 2006, nhưng những cách biệt vẫn còn tồn tại với tỷ lệ tử vong cao hơn ở khu vực dân tộc thiểu số, người rất nghèo và những người sống ở vùng sâu, vùng xa; bệnh tật ở trẻ em còn phổ biến, tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng thể thấp còi cao. Thương tích ở trẻ em là nguyên nhân hàng đầu dẫn đến tử vong ở trẻ em từ 1 tuổi trở lên...
Đã có những tiến bộ đáng kể liên quan đến chăm sóc và phát triển trẻ thơ, song một vấn đề nảy sinh là phạm vi chăm sóc và giám sát của cha mẹ với 19% trẻ em từ 0 – 59 tháng tuổi hoặc là bị để ở nhà một mình hoặc là được trẻ khác dưới 10 tuổi trông nom trong năm 2006. Chất lượng giáo dục cũng là một vấn đề cần quan tâm với cách tiếp cận dựa vào giáo trình, bài giảng, phương pháp dạy không cùng tham gia, chương trình học không phù hợp và năng lực của giáo viên còn thấp là những điểm hạn chế. Tỷ lệ nhập học tiểu học của trẻ em dân tộc thiểu số là khoảng 80% và tỷ lệ hoàn thành bậc học này là khoảng 68%. Khoảng 52% trẻ em khuyết tật không đi học.
Việc sử dụng vũ lực thân thể (thường là đánh) như là hình phạt hoặc đối với việc dạy dỗ con cái thường thấy ở Việt Nam. Năm 2007, ước tính có 2,5 triệu trẻ em sống trong “hoàn cảnh đặc biệt” như trẻ em mồ côi, trẻ em lang thang, phải lao động sớm, sử dụng ma tuý, bị lạm dụng tình dục... Trong nhóm dân ở độ tuổi từ 0-18 tuổi, tổng số trẻ em khuyết tật được báo cáo là 662 nghìn. Số vị thành niên làm trái pháp luật đang gia tăng...
Quyền được tham gia của trẻ em là một khái niệm tương đối mới ở Việt Nam. Tuy nhiên, sự tham gia của trẻ em vẫn chưa được thể chế hoá và vẫn còn mang tính chiếu lệ. Còn thiếu nhận thức và kỹ năng chung ở người lớn và thanh niên về các quá trình cùng tham gia ở tất cả các cấp./.