Header
Chuyển bộ gõ
vsfo
Danh bạ thư điện tử
Bảo hiểm thất nghiệp
Trung tâm lao động ngoài nước
Rà soát pháp luật Việt Nam để tiến tới phê chuẩn Công ước 159 về phục hồi chức năng lao động và việc làm cho người khuyết tật
Cập nhật ngày: 29/07/2010

Sáng nay, 29/7/2010, Vụ Pháp chế (Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội) phối hợp với Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) tổ chức buổi toạ đàm tham vấn về rà soát, đánh giá pháp luật Việt Nam để tiến tới phê chuẩn Công ước 159 về phục hồi chức năng lao động và việc làm cho người khuyết tật (NKT) trong khuôn khổ dự án “Thúc đẩy việc làm bền vững cho NKT thông qua khung pháp luật hiệu quả và dịch vụ hoà nhập”. Tham dự có ông Đặng Đức San, Vụ trưởng Vụ Pháp chế, ông Tim De Meyer, chuyên gia cao cấp của ILO, cùng đại diện một số bộ, ngành hữu quan, các đơn vị thuộc Bộ Lao động- TBXH và tổ chức của người khuyết tật.

Theo kết quả thống kê gần đây nhất, Việt Nam hiện có khoảng 6,1 triệu NKT, chiếm 7,8% dân số, bao gồm 29,4% khuyết tật vận động, 16,8% thần kinh, 13,8% thị giác, ... và nguyên nhân gây nên khuyết tật chủ yếu là do bẩm sinh, bệnh tật, hậu quả của chiến tranh, tai nạn lao động, tai nạn giao thông

Để tạo khung pháp lý về chăm sóc NKT, trong những năm qua, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản chính sách quy định khá toàn diện, thống nhất về NKT nói chung và phục hồi chức năng  lao động, việc làm cho NKT nói riêng. Xuyên suốt trong Pháp lệnh về Người tàn tật năm 1998 là những quy định về học nghề, việc làm đối với NKT, quy định về chăm sóc sức khoẻ, học văn hoá để NKT có thể phục hồi chức năng lao động và việc làm của mình, thúc đẩy cơ hội việc làm trên thị trường lao động.

Cùng với đó là Bộ luật Lao động năm 1994 và việc sửa đổi, bổ sung vào các năm 2002, 2006 và 2007 cũng đã dành riêng một mục quy định về lao động là người khuyết tật, trong đó chỉ rõ Nhà nước có những chính sách ưu đãi để giúp NKT phục hồi sức khoẻ, chức năng lao động, học nghề và có chính sách cho vay vốn với lãi suất thấp để NKT tự tạo việc làm và ổn định đời sống. Tiếp đó là việc ban hành Nghị định 116/NĐ-CP năm 2004 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 81/CP năm 1995 quy định chi tiết về hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về lao động là người tàn tật, trong đó quy định cụ thể về chế độ đối với các cơ sở sản xuất kinh doanh dành riêng cho NKT cũng như khuyến khích các doanh nghiệp nhận lao động là NKT vào làm việc. Hay như Luật Dạy nghề cũng có một chương quy định về dạy nghề cho NKT, cụ thể là các chính sách đối với người học nghề là người khuyết tật. Đề án trợ giúp người tàn tật giai đoạn 2006-2010 được phê duyệt theo Quyết định 239/2006/QĐ-TTg cũng nhằm mục tiêu phát triển toàn diện các dịch vụ cho NKT nói riêng và các dịch vụ phục hồi chức năng lao động và việc làm cho NKT nói chung. Đặc biệt, ngày 17/6 vừa qua, Quốc hội đã thông qua Luật Người khuyết tật và Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2011 thay thế cho Pháp lệnh về Người tàn tật năm 1998, đáp ứng yêu cầu thực tế và xu hướng phát triển của đất nước.

Phát biểu tại hội thảo, các ý kiến đều cho rằng, nhìn chung pháp luật Việt Nam về NKT mặc dù còn có những bất cập nhưng dù sao cũng tương đối phù hợp với yêu cầu của Công ước 159 về phục hồi chức năng lao động và việc làm của NKT. Vì vậy, nếu Việt Nam phê chuẩn công ước này thì không xảy ra xung đột pháp lý mà còn góp phần tạo điều kiện thuận lợi để nước ta có thể vận dụng các quy định của công ước làm khuôn mẫu cho việc tiến hành sửa đổi, bổ sung pháp lụât hiện hành về NKT. Đồng thời, cũng thể hiện sự cam kết hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng của Việt Nam, củng cố uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế, tạo điều kiện để phát huy hơn nữa những thành tựu đã đạt được và thúc đẩy hợp tác và trợ giúp quốc tế về NKT.

Tuy nhiên, khi phê chuẩn Công ước 159, Việt Nam cũng sẽ gặp những khó khăn như: Pháp luật về NKT của nước ta mới tiếp cận NKT dưới góc độ chế độ phúc lợi, chưa tiếp cận dưới khía cạnh quyền con người. Hơn nữa, hệ thống pháp luật của Việt Nam về NKT còn nhiều bất cập. Số lượng NKT của nước ta thuộc dạng đông, trong khi trình độ phát triển kinh tế - xã hội còn thấp kém, đời sống còn khó khăn, đã tác động đến việc thực hiện các quyền của NKT. Nhận thức của NKT còn mang nặng định kiến, việc tuyên truyền, phố biến pháp luật liên quan còn hạn chế.

Để việc nghiên cứu, phê chuẩn Công ước 159 được thực hiện theo lộ trình đặt ra (giai đoạn 2010-2015), các ý kiến cũng thống nhất về việc thành lập  tổ nghiên cứu 3 bên, gồm đại diện Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Bộ Lao động - TBXH, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, Liên minh HTX Việt Nam vì đây là Công ước của Tổ chức ILO.  Mặt khác, sẽ phải tiến hành việc khảo sát, đánh giá theo các lĩnh vực có liên quan như hướng nghiệp, đào tạo nghề và học nghề cho NKT, cơ hội việc làm bình đẳng giữa NKT và người lao động bình thường, bình đẳng về cơ hội giữa lao động nam giới và lao động nữ giới có khuyết tật, dịch vụ phục hồi chức năng lao động và việc làm cho NKT...

Công ước 159 về phục hồi chức năng lao động và việc làm cho NKT được ban hành năm 1983 là văn bản pháp lý gồm các chuẩn mực lao động do ILO xây dựng, với mục tiêu nhằm trợ giúp NKT tái hoà nhập cộng đồng thông qua việc tiếp cận với việc làm, có việc làm ổn định. Hiện trên thế giới có 83/183 quốc gia phê chuẩn Công ước 159, trong đó khu vực Châu Á- Thái Bình Dương, có 10/34 quốc gia phê chuẩn như Hàn Quốc, Nhật Bản, Mông Cổ, Thái Lan, Trung Quốc... Khi phê chuẩn Công ước 159, các quốc gia phải có nghĩa vụ: Xây dựng, thực hiện và đánh giá định kỳ chính sách quốc gia về phục hồi chức năng lao động cho NKT; đảm bảo các chính sách có định hướng đúng; tổ chức cuộc tham vấn với sự tham gia của đại diện người lao động, người sử dụng lao động và tổ chức đại diện cho NKT; Phát triển dịch vụ phục hồi chức năng lao động và việc làm cho NKT tại khu vực vùng nông thôn và các vùng sâu, vùng xa...


Ý kiến của bạn Gửi cho bạn bè In bài này Trở lại
Tin theo ngày Xem
Về đầu