|
Năm 2009, mặc dù do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới, song được sự quan tâm chỉ đạo của Bộ, Tỉnh uỷ, UBND tỉnh và sự phối hợp chặt chẽ của các ban ngành, đoàn thể, toàn tỉnh Hưng Yên đã tổ chức đưa được 2.625 lao động đi xuất khẩu, đạt 87,5% so với chỉ tiêu, trong đó tập trung vào các thị trường lớn như: Đài Loan 457 người, Malaysia 284 người, Nhật Bản 65 người. Nhìn chung, công tác XKLĐ đã góp phần quan trọng giải quyết việc làm cho một lượng lớn lao động, nhất là lao động ở khu vực nông thôn, làm thay đổi bộ mặt xã hội và nhận thức của các cấp, các ngành và của người lao động. Thị trường lao động quốc tế được quan tâm, đơn vị chuyên doanh về xuất khẩu lao động của tỉnh được hình thành, nhiều hợp đồng đã được ký kết, bước đầu đã tạo được lòng tin đối với người dân.
Để tạo điều kiện thuận lợi cho người lao động trong việc tìm hiểu thông tin, tại mỗi huyện, thành phố tỉnh đều bố trí Văn phòng đại diện của các công ty XKLĐ. Đồng thời, tạo điều kiện cho các đơn vị này chủ động phối hợp với các ban ngành, đoàn thể tại địa phương như Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên lựa chọn mô hình tuyển phù hợp như tổ chức hội nghị xuất khẩu lao động, thông báo công khai nhu cầu tuyển, điều kiện tuyển và chi phí đi xuất khẩu lao động để từ đó giúp người dân địa phương, người lao động tìm hiểu, lựa chọn công việc và thị trường phù hợp với nhu cầu.
Tuy nhiên, công tác xuất khẩu lao động của tỉnh cũng còn gặp nhiều khó khăn, nhất là thực hiện chủ yếu thông qua các đơn vị có chức năng xuất khẩu lao động ngoài tỉnh, việc đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài luôn bị động về số lượng, chất lượng và thị trường tiếp nhận. Công tác tuyển chọn, đào tạo nghề, dạy tiếng và giáo dục định hướng chưa đáp ứng được yêu cầu. Với mục tiêu đưa khoảng 2.500 lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài trong năm 2010, trong số các nhóm giải pháp đề ra, Hưng Yên đặc biệt chú trọng đến vấn đề chủ động tạo nguồn cho xuất khẩu lao động. Cụ thể, tỉnh giao cho các xã, phường, thị trấn hàng năm phải tiến hành điều tra, nắm số lượng lao động có việc làm, thiếu việc làm, trình độ văn hoá, tay nghề và hoàn cảnh kinh tế. Từ đó, bình chọn, phân loại, lập danh sách những người tự nguyện tham gia XKLĐ để giới thiệu cho các doanh nghiệp có chức năng tuyển chọn, có kế hoạch tạo nguồn trước mắt và lâu dài. Định hướng cho người lao động có nhu cầu XKLĐ tham gia học nghề, ngoại ngữ và giáo dục định hướng chuẩn bị đầy đủ các kỹ năng điều kiện cần thiết.
|