Trong 10 năm qua, Việt Nam đã đạt được thành tựu to lớn về phát triển kinh tế, tốc độ tăng trưởng gần 8% năm. Tuy nhiên, hệ thống an sinh xã hội của nước ta chưa được phát triển tương xứng, mức độ bao phủ và mức hưởng thấp, khả năng tiếp cận của nhiều nhóm đối tượng chưa cao. Nguồn lực huy động thực hiện các chính sách an sinh xã hội còn nhiều hạn chế, chủ yếu dựa vào ngân sách của Nhà nước, năng lực tự vươn lên, tự an sinh của người dân còn thấp. Trong khi, hệ thống an sinh xã hội phi chính thức- một mạng lưới rất hữu hiệu đối với các nước đang phát triển thì ngày càng yếu đi.
Hội thảo đã đưa ra 6 nhóm mục tiêu. Một là, tăng cường tính bình đẳng trong thị trường lao động, thông qua hỗ trợ đào tạo nghề cho người nghèo và các đối tượng dễ bị tổn thương. Mỗi năm đào tạo nghề cho 1,5 triệu người, trong đó có 1 triệu lao động nông thôn.
Hai là, phát triển hệ thống bảo hiểm xã hội tiên tiến, mở rông phạm vi đối tượng tham gia. Tỷ lệ tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc trong giai đoạn 2011-2020 tăng bình quân 7,6%/năm, đến 2015 phải có 11,2 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc. Tỷ lệ tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện tăng bình quân 22-25% năm, mục tiêu đến 2015 có 1,7 triệu người tham gia, đến 2020 có 4,6 triệu người.
Ba là, tăng cường hiệu quả chăm sóc y tế công: đến năm 2014 phải đạt 100% dân số tham gia bảo hiểm y tế.
Bốn là, phát triển hệ thống trợ giúp xã hội linh hoạt, ứng phó kịp thời với các biến cố, rủi ro. Mức chuẩn trợ cấp xã hội thời kỳ 2011-2015 phải bằng 60% mức sống tối thiểu; bảo đảm 100% người dân có thu nhập thấp hơn mức sống tối thiểu đều được hưởng trợ cấp xã hội.
Năm là, thực hiện giảm nghèo bền vững, ngăn chặn gia tăng bất bình đảng, chênh lệch thu nhập giữa nhóm 10% số người giàu nhất và nghèo nhất phải được giảm xuống dưới 10 lần
Sáu là, đảm bảo cho mọi người dân được tiếp cận các dịch vụ xã hội: giáo dục, chăm sóc, y tế, nhà ở, nước sạch. điện, thông tin…
Bản dự thảo cũng đề xuất, tổng nguồn kinh phí cho an sinh xã hội trong thời kỳ 2011-2015 là 732 nghìn tỷ đồng, trong đó ngân sách nhà nước chi 73 nghìn tỷ đồng, chiếm 8,7% ngân sâch Nhà nước, tương đương 2,8% GDP cho công tác an sinh xã hội.
Tại hội thảo, nhiều ý kiến cho rằng dự thảo chưa đề cập rõ làm thế nào để an sinh xã hội ở Việt Nam trở thành hệ thống toàn dân. Rất nhiều khó khăn đặt ra: thể chế và nguồn lực để mở rộng phạm vi bao phủ. An sinh xã hội toàn dân cần phải thực hiện bằng nhiều giải pháp: bắt buộc, tự nguyện, bao cấp, hỗ trợ và tuyên truyền nâng cao nhận thức cho mọi người dân.
Đại diện Ngân hàng Thế giới (WB) cho rằng, hệ thống an sinh xã hội phải có cơ sở đúng đắn, có tính đến các yếu tố: giới, trẻ em, văn hoá, tính bền vững. Đối tượng hưởng trợ giúp xã hội là toàn bộ nhóm yếu thế, tại sao người tị nạn lại không ở trong nhóm này?.
“ Cần phải chuyển từ mô hình nhà nước phúc lợi sang mô hình nhà nước xã hội. Tức là, tiến tới giảm trợ giúp, trợ cấp xã hội, chuyển dần sang nâng cao năng lực tự đối phó với đói nghèo, đối phó với thất nghiệp, đối phó với bệnh tật cho mọi người dân và các doanh nghiệp”, đại diện WB khuyến cáo
Phát biểu tại hội thảo, Thứ trưởng Bộ Loa động- Thương binh và Xã hội Nguyễn Trọng Đàm cho biết, Bộ đang chủ trì 6 chiến lược thời kỳ 2011-2020, bao gồm: an sinh xã hội, việc làm, đào tạo nghề, bình đẳng giới, xoá đói giảm nghèo,bảo vệ trẻ em. Theo đó, đề xuất trong thời kỳ 2011- 2015, tổng nguồn kinh phí cho an sinh xã hội là 732 nghìn tỷ đồng.