- Là tỉnh có nhiều huyện được Nghị quyết 30a của Chính phủ hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững, xin ông cho biết những kết quả bước đầu của Hà Giang trong việc thực hiện chương trình này?
- Hà Giang có 6 huyện nằm trong Chương trình 30a của Chính phủ, sau 1 năm thực hiện, chỉ tính riêng 6 huyện nghèo, số hộ được hỗ trợ là 4.563 hộ, trong đó đồng bào dân tộc thiểu số 4.560 hộ. Tổng số vốn 102,822 tỷ đồng, trong đó ngân sách Nhà nước hỗ trợ 38,329 tỷ đồng, vốn vay tín dụng 36,504 tỷ đồng, vốn huy động 20,128 tỷ đồng. Bên cạnh đó, Hà Giang cũng bố trí mọi nguồn vốn nhằm xây dựng và nâng cấp hệ thống hạ tầng cơ sở giúp bà con có cơ hội tiếp cận với một số công trình phúc lợi công cộng như y tế, giáo dục, điện lưới...
Theo báo cáo của các địa phương, hiện đã có 4 huyện xoá xong nhà tạm cho hộ nghèo, đó là Hoàng Su Phì, Xín Mần, Đồng Văn và Mèo Vạc, 2 huyện còn lại là Yên Minh và Quảng Bạ dự kiến sẽ hoàn thành trước Tết Nguyên đán Canh Dần...
- Vậy đâu là kinh nghiệm của Hà Giang trong việc đẩy nhanh tiến độ triển khai thực hiện nghị quyết, thưa ông?
Tỉnh chúng tôi thực hiện cơ chế UBND huyện là cơ quan chủ quản đầu tư đồng thời là chủ đầu tư đối với các công trình đòi hỏi yêu cầu kỹ thuật như điện, đường giao thông nơi có địa hình phức tạp, công trình có mức vốn đầu tư dưới 5 tỷ đồng thuộc nguồn vốn 30a; công trình kiên cố hoá trường, lớp học; công trình cấp nước sinh hoạt tập trung; công trình đường giao thông liên xã; công trình thuỷ lợi ... thì các chủ đầu tư thực hiện rút dự toán qua cơ quan kho bạc theo phân cấp quản lý vốn đầu tư. Cụ thể, công trình có tổng mức đầu tư trên 5 tỷ đồng sẽ phải thực hiện thanh toán tại Kho bạc tỉnh, dưới 5 tỷ đồng thanh toán tại Kho bạc huyện. UBND xã làm chủ đầu tư đối với công trình, dự án đầu tư cho các thôn bản như: đường giao thông nông thôn, kiên cố hoá kênh mương, duy tu bảo dưỡng công trình sau đầu tư ... Phòng Kế hoạch Tài chính huyện thực hiện cấp lệnh chi tiền về cho xã theo kết quả đã triển khai thực hiện.
- Những khó khăn của địa phương trong quá trình thực hiện?
Tuy có cơ chế trên song trong quá trình thực hiện tại địa phương cũng còn một số khó khăn vướng mắc, đặc biệt là đội ngũ cán bộ phải kiêm nhiệm, trình độ năng lực còn nhiều hạn chế. Đối với đội ngũ cán bộ cấp huyện và xã, kinh phí quản lý điều hành đề án không được bố trí (có hướng dẫn trích từ chi thường xuyên của địa phương, nhưng địa phương không thể cân đối được), dẫn đến việc xây dựng đề án, hoàn tất các thủ tục, thẩm định, trình duyệt và tổ chức triển khai thực hiện còn gặp nhiều khó khăn. Thêm vào đó, là nguồn vốn thực hiện đề án không cụ thể, việc phê duyệt đề án giao cho UBND tỉnh, nhưng không tự chủ về nguồn lực, dẫn đến địa phương lúng túng trong việc thẩm định và phê duyệt đề án của các huyện nghèo. Đặc biệt là việc bố trí vốn đáp ứng nhu cầu của đề án đã được tỉnh phê duyệt còn chênh lêch quá lớn.
- Ông đánh giá thế nào về chất lượng thông tin trên Tạp chí Lao động và Xã hội? Đặc biệt là chuyên mục hướng dẫn nghiệp vụ xã phường về công tác của ngành?
Trong nhiều năm qua, tất cả các cán bộ làm công tác Lao động – Thương binh và Xã hội từ tỉnh đến các xã đều được trang bị Tạp chí Lao động và Xã hội và coi đây như là một cẩm nang trong việc thực hiện các nghiệp vụ của ngành. Bên cạnh đó, qua Tạp chí mỗi cán bộ đã tìm thấy những mô hình hay cách làm có hiệu quả trong một số lĩnh vực như: lao động, việc làm, người có công, chương trình giảm nghèo, dạy nghề, phòng chống tệ nạn xã hội... để áp dụng vào thực tế của mỗi địa phương. Đặc biệt, chuyên mục hướng dẫn nghiệp vụ xã phường về công tác lao động, người có công và xã hội, chúng tôi coi đây là phương thức ”cầm tay chỉ việc” đồng thời cũng là diễn đàn cho các cán bộ xã phường trao đổi nghiệp vụ cũng như đóng góp những kinh nghiệm hoặc bày tỏ những quan điểm tâm tư, nguyện vọng của mình trong thực thi nhiệm vụ. Thực tế, từ chuyên mục này đã giải quyết được những lúng túng trong quá trình thực hiện, nhất là đối với cán bộ ở miền núi. Chẳng hạn, việc xem xét, xác nhận người tham gia hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hoá học, mặc dù đã có Quyết định 26 của Thủ tướng Chính phủ song vẫn chưa có quy định cụ thể về các biểu hiện dị dạng, dị tật và các cơ quan y tế nào có thẩm quyền xác nhận cho họ và con đẻ của họ. Hay như thời gian người hoạt động kháng chiến ở vùng quân đội Mỹ đã sử dụng chất độc hoá học là bao nhiêu lâu thì được xét là có thể bị nhiễm độc? Nếu người đó chỉ đi qua vùng này thì có được xét không? Hoặc trong công tác đào tạo nghề, những trường hợp nào thì được hưởng cho vay ưu đãi trong đào tạo nghề theo Quyết định 157 của Thủ tướng Chính phủ và những thủ tục cần có để được vay vốn…
Xin cảm ơn ông!
Hữu Bắc (thực hiện)