|
Có người ví Tây Bắc như một “toà nhà” khổng lồ với kiến trúc 2 tầng, “tầng 1” là vùng thấp và “tầng 2” là vùng cao. Vùng thấp là nơi cư trú chính của các dân tộc Thái, Lào, Lự- gương mặt văn hoá vùng thấp tiêu biểu là dân tộc Thái. Vùng cao cao là nơi cư trú của các dân tộc Mông, Dao, Hà Nhì, Si La, Khơ Mú- gương mặt vùng cao chính là dân tộc Mông.
Ở vùng thấp, các dân tộc sống bằng nghề làm ruộng nước là chính. Ruộng được khai khẩn tại các thung lũng lòng chảo Mường Thanh (Điện Biên), Mường Lò (Nghĩa Lộ), Mương Than (Lai Châu) và Mường Tấc (Sơn La); nơi có nguồn nước dồi dào bởi hệ thống sông suối dọc ngang. Giống lúa truyền thống là lúa nếp, nhưng nay do sức hút năng suất và sức ép dân số, nên đang có xu hướng lúa tẻ. Kỹ thuật trong lúa nước của cư dân vùng thấp đã đạt đến trình độ cao; hệ thống mương, phai, lái, lịn, cọn nước được hình thành từ lâu đời.
Ngoài cây lúa nước, trên các sườn núi đồng bào còn trồng các loại ngô, khoai, sắn, đậu. Ngành nghề thủ công đối với dân tộc Thái đáng chú ý là dệt vải và đan lát mây tre. Đồng bào tự túc vải cho các nhu cầu may quần áo, chăn đệm, màn rèm… Theo tập quán Thái, người con gái khi lấy chồng phải mang theo của hồi môn bắt buộc là chăn, đệm, gối cho gia đình nhà chồng. Vì lẽ đó, phụ nữ Thái thường rất giỏi việc thêu thùa canh cửi.
Bản của người Thái thường dựng ở chân núi, cư trú theo kiểu mật tập. Các nhà trong bản dựng rất gần nhau, giữa các nhà chỉ có lối đi lại chứ không có vườn tược như của các dân tộc Tày, Nùng vùng Việt Bắc. Nhà của người Thái làm bằng gỗ, tre, nứa, gianh, có 2 mái chính chạy dọc và 2 mái phụ chay ngang; trên đầu hồi chái nhà người Thái đen có bộ khau cút. Trong nhà, việc bố trí chỗ ở theo một nguyên tắc chặt chẽ. Tính từ đầu quản sang đầu chán, dọc theo vách phía sau là chỗ để thờ, tiếp đến là chỗ ngủ của bố mẹ; chỗ ngủ của con gái lớn và vợ chồng trẻ ở cuối dãy. Con trai lớn trước khi lấy vợ, ngủ ở quản. Giữa nhà, chạy dọc từ cửa này sang cửa kia có 2 cái bếp. Bếp đun nước, sưởi ấm và tiếp khách nam giới ở đầu quản; bếp nấu ăn, nấu cám lợn đặt ở đầu chán, đồng thời đây là nơi tiếp khách nữ.
Tiếng Thái thuộc ngữ hệ Tày- Thái, cùng hệ ngôn ngữ với tiếng Tày- Nùng, gần với tiếng Lào và Thái Lan và là thứ tiếng phổ thông ở vùng thấp Tây Bắc. Tiếng Thái đã phát triển đến trình độ có chữ viết riêng. Chữ Thái có nguồn gốc từ chữ Phạn cổ (ấn Độ). Từ xa xưa, tiếng Thái cổ được dùng để ghi chép các gia phả, thần phả, văn học dân gian… Tín ngưỡng người Thái thuộc tín ngưỡng nguyên thuỷ, tin vào đa thần. Đồng bào quan niệm người ta có đến 80 hồn, gồm 30 hồn đằng trước và 50 hồn đằng sau. Người chết chỉ chết về thể xác, còn phần linh hồn thì sống mãi với con cháu, tổ tông. Xã hội người Thái cổ truyền có các thầy cúng, chuyên chữa bệnh cho người ốm theo cách điều âm binh đi đánh đuổi ma tà. Họ nói con “phi luông” là thứ ma độc ác nhất chuyên làm hại con người.
Vốn văn nghệ dân gian Thái hết sức phong phú. Những truyền thuyết được ghi lại thành văn như các truyện: Xống chụ xon xao, Khun lú nàng ủa, ý nọi nàng sưa, Tản chụ xống xương… trở thành di sản văn hoá vô giá và độc đáo. Làn điệu dân ca Thái được mô tả qua tiếng khắp mượt mà, sâu lắng, được các nhạc cụ: Tính tẩu, nhị, sáo… nâng cánh bay bổng. Các vũ điệu: Múa sạp, múa nón, múa khăn, múa kếp phắc, múa bật bông… làm mê đắm lòng người.
Nếu vùng thấp Tây Bắc văn hoá Thái là đại diện, thì ở vùng cao, theo các nhà nghiên cứu, văn hoá Mông lại là gương mặt văn hoá đại diện. Tập quán chung và lớn nhất của người Mông là du canh du cư- có câu: “Lửa cháy đến đâu người Mông đến đó”- nguồn sống chính đối với đồng bào là phát nương trồng rẫy. ở những vùng có điều kiện về địa thế thì bà con cũng làm ruộng bậc thang, nhưng ruộng bậc thang nói riêng và ruộng lúa nước nói chung, không phải là thao tác sở trường của người Mông. Ngoài lúa và ngô là 2 loại cây lương thực chủ lực, người Mông còn trồng lanh để lấy sợi, trồng chàm để nhuộm vải và trồng một số cây dược liệu khác.
Trước kia người Mông trồng nhiều cây thuốc phiện, vì vậy nạn nghiện hút trong đồng bào dân tộc Mông tương đối cao so với các dân tộc anh em. Trên nương thuốc phiện họ thường gieo lẫn rau cải, một giống rau thích hợp ở nơi khí lạnh, cây nhỏ, lá có lông, xanh đậm, dễ ăn. Người mông chăn nuôi nhiều lợn, gà dê ở nhà và trâu, bò, ngựa thả rông ngoài rừng, lâu lâu mới kiểm tra một lần.
Xuất phát từ quan
|