Skip Ribbon Commands
Skip to main content
Sign In

Thực trạng trẻ em nghèo ở Việt Nam qua một cuộc điều tra

13/12/2011

Trẻ em nghèo là những em không được đáp ứng 7 loại nhu cầu cơ bản của con người. Theo các chuyên gia UNICEF, nếu sử dụng phương pháp đa chiều trong đánh giá tình hình ở Việt Nam thì người ta thấy có tới 1/3 số trẻ em dưới 16 tuổi, tức khoảng 7 triệu em thuộc diện nghèo.

Trẻ em nghèo là những em không được đáp ứng 7 loại nhu cầu cơ bản của con người. Theo các chuyên gia UNICEF, nếu sử dụng phương pháp đa chiều trong đánh giá tình hình ở Việt Nam thì người ta thấy có tới 1/3 số trẻ em dưới 16 tuổi, tức khoảng 7 triệu em thuộc diện nghèo.

Bảng 1: Các lĩnh vực và chỉ số phục vụ đánh giá tình hình trẻ em nghèo ở Việt Nam

Nghèo về dinh dưỡng ở Việt Nam đứng ở vị trí số 1
Theo số liệu Điều tra đánh giá các mục tiêu trẻ em và phụ nữ Việt Nam năm 2006 (MICS), để ước tính số trẻ em không được đáp ứng 7 loại nhu cầu cơ bản của con người, thì nghèo về dinh dưỡng là vấn đề lớn nhất, (dù không có trong Bảng 1 nói trên) với tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng lên tới 35,8% (chỉ tiêu suy dinh dưỡng tính theo chiều cao, mức độ vừa). Theo báo cáo của Viện Dinh dưỡng Việt Nam, năm 2007, tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng tính theo cân nặng là 21,2%; tính theo chiều cao là 33,9% ; tính theo cân nặng và chiều cao là 7,1%, cụ thể còn 1,6 triệu trẻ suy dinh dưỡng nhẹ cân và 2,6 triệu em bị suy dinh dưỡng thấp còi. Với con số này, thì vấn đề nghèo về dinh dưỡng đứng ở vị trí số 1 trong tất cả các lĩnh vực thiếu thốn nhu cầu cơ bản và nước ta đang phấn đấu giảm tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng đến năm 2010 còn 20% và năm 2015 xuống còn 15%.

Nghèo về nơi ở và thường đi kèm theo đó là thiếu các công trình vệ sinh cơ bản đứng ở vị trí thứ 2 và thứ 3 về mức độ nghiêm trọng, với tỷ lệ 20 – 30% số trẻ em đang chịu những thiếu thốn này.
Thiếu các phương tiện truyền thông dẫn đến thiếu thông tin tuy đứng ở vị trí thứ 4 về xếp hạng tỷ lệ trẻ phải chịu tình cảnh thiếu thốn, song đó là một trong những vấn đề quan trọng hàng đầu, vì thông tin không những là phương tiện tạo cơ hội phát triển năng lực cho cuộc sống tương lai của trẻ, mà còn là phương tiện giải trí trong đời sống hiện tại.

Con số 8,7% trẻ em thiếu nước sạch có thể quá thấp. Theo số liệu của Chương trình Quốc gia về Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn giai đoạn 2006 – 2010, thì tỷ lệ hộ nông dân có nước sạch mới đạt 62% vào cuối năm 2005. Trong số này, chỉ có chưa đến 30% được tiếp cận với nguồn nước sạch đạt tiêu chuẩn của Bộ Y tế. Chương trình này đặt ra mục tiêu đến năm 2010 sẽ có 85% dân số nông thôn có nước sạch với mức sử dụng 60 lít/ người/ngày.

Tỷ lệ trẻ em nghèo về giáo dục, không đi học có tỷ lệ thấp, khoảng 1,6%. Trẻ em nghèo về chăm sóc sức khoẻ, thiếu sự chăm sóc y tế đầy đủ (trong nghiên cứu này là những em không được tiêm chủng, phòng ngừa các bệnh, không được chữa trị khi viêm nhiễm đường hô hấp cấp hoặc tiêu chảy) cũng có tỷ lệ tương đối thấp, khoảng 1,9%.
Xem xét các yếu tố tác động đến tình trạng thiếu thốn của trẻ em đối với những nhu cầu cơ bản, có thể thấy mức độ ảnh hưởng khác nhau của từng loại yếu tố. Có sự khác biệt rõ rệt về mức độ thiếu các dịch vụ cơ bản giữa trẻ em ở khu vực đô thị và nông thôn. Trong khi ở đô thị, tỷ lệ trẻ em thiếu các dịch vụ đáp ứng nhu cầu cơ bản rất thấp (trừ nhà ở có tỷ lệ 9,1%), thì ở nông thôn các en còn rất thiếu thốn về cơ sở vật chất: Nhà ở: 33,5%; công trình vệ sinh: 24,9%; nước sạch: 10,7%; thông tin: 16,5%.

Về yếu tố vùng, đặc điểm nổi bật là trẻ em miền núi như Tây Bắc, Đông Bắc, Tây Nguyên, Bắc Trung bộ thiếu cả cơ sở vật chất (nhà ở, công trình vệ sinh, nước sạch) và thông tin, trong khi hai vùng đồng bằng và Đông Nam bộ có tỷ lệ trẻ em nghèo về các lĩnh vực này thấp.

Về yếu tố dân tộc, những dân tộc ít người, sống phân tán ở vùng cao, điển hình là người Mông trong mẫu điều tra, có tỷ lệ trẻ em nghèo cao về tất cả các lĩnh vực. Trẻ em thuộc các dân tộc có dân số đông, sống tập trung và ở vùng núi thấp, vùng đồng bằng như Tày, Nùng, Mường, Thái… thì mức độ nghèo về thông tin là điều đáng chú ý.
Như vậy, cách đo lường tình trạng nghèo của trẻ em dựa trên cách tiếp cận đa chiều về sự thiếu thốn các nhu cầu cơ bản cho thấy những nét rõ ràng hơn về đặc điểm nghèo của trẻ em Việt Nam.

Tỷ lệ trẻ em tuy phải trải qua tình cảnh thiếu thốn nhưng ít nghiêm trọng cao hơn so với tỷ lệ phải trải qua sự thiếu thốn nghiêm trọng, với thứ tự lần lượt của tình trạng thiếu các lĩnh vực theo Bảng 1 là: 33%, 27%, 13%, 11%, 14% và 27%. Tương tự như sự thiếu thốn nghiêm trọng, tình trạng thiếu thốn ít nghiêm trọng hơn tập trung chủ yếu ở các lĩnh vực về nhà ở, công trình vệ sinh và y tế. Tỷ lệ này khá cao có thể cho thấy nguy cơ bị rơi vào tình trạng thiếu thốn nghiêm trọng của một bộ phận không nhỏ trẻ em, khi gia đình các em có những biến cố về kinh tế hoặc những yếu tố khác.

Các yếu tố tương quan với tình trạng thiếu thốn nghiêm trọng của trẻ em
Về yếu tố tuổi và giới tính, nhìn chung, trẻ em ở độ tuổi nhỏ có xu hướng trải qua nhiều thiếu thốn nghiêm trọng hơn so với trẻ em lớn tuổi hơn. Điều này phù hợp với cả trẻ em trai và trẻ em gái. Chẳng hạn, trong khi trẻ em trai từ 0-9 tuổi có từ 40 – 47% trải qua ít nhất một thiếu thốn nghiêm trọng thì đối với trẻ em từ 10-17 tuổi tỷ lệ này là 36 – 37%.

Tương tự như mối tương quan giữa qui mô gia đình với tỷ lệ nghèo của trẻ em. Tỷ lệ trẻ em thiếu ít nhất một nhu cầu cơ bản cao hơn ở các gia đình có số thành viên đông hơn, đặc biệt đối với gia đình có 7 thành viên trở lên, cụ thể theo kết quả điều tra 55% trẻ em thiếu ít nhất một nhu cầu cơ bản trong các gia đình có 7 thành viên trở lên, trong khi tỷ lệ này ở gia đình dưới 3 người là 46%, trong gia đình 3-4 người là 29% và 5-6 người là 41%; Tỷ lệ trẻ thiếu nghiêm trọng ít nhất 2 nhu cầu cơ bản cũng thể hiện sự chênh lệch tương tự giữa qui mô gia đình có nhiều thành viên và ít thành viên.

Về mối tương quan của tỷ lệ trẻ em nghèo với học vấn của chủ hộ, thì tỷ lệ trẻ em thiếu nghiêm trọng ít nhất một nhu cầu cơ bản cao nhất ở các gia đình có chủ hộ thất học (77%), cao gấp 7 lần so với những gia đình có chủ hộ học xong PTTH trở lên và gần 3 lần so với những gia đình có chủ hộ học xong THCS.

Về giới tính của chủ hộ: Trẻ em trong các gia đình có phụ nữ làm chủ hộ có tỷ lệ trải qua một thiếu thốn nghiêm trọng thấp hơn so với trẻ em trong các gia đình có nam giới làm chủ hộ (31% so với 41%).

Về mức sống, trẻ em trong các gia đình thuộc nhóm 1 (20% nghèo nhất) có tỷ lệ rất cao thiếu ít nhất 1 hoặc 2 thiếu thốn nghiêm trọng (92% và 61%) và khác biệt đáng kể so với các nhóm khác. Chẳng hạn, đối với nhóm 2 là 64% và 18%, nhóm 3 là 28% và 3% và nhóm 4 là 11% và 1%, nhóm giàu nhất chỉ là 5% và 0%.

Yếu tố dân tộc cũng thể hiện rất rõ trong mối tương quan với tỷ lệ cao thấp về tình trạng thiếu thốn của trẻ em. Một số dân tộc thiểu số có tỷ lệ trẻ em thiếu ít nhất một nhu cầu cơ bản cao hơn rõ rệt so với trẻ em dân tộc Kinh. Chẳng hạn, có 32% trẻ em dân tộc Kinh thiếu ít nhất một nhu cầu so với 99% trẻ em dân tộc Mông và 78% trẻ em dân tộc Thái. Tương tự, tỷ lệ trẻ em thiếu ít nhất 2 nhu cầu ở dân tộc Kinh là 2% so với 98% trẻ em dân tộc Mông và 37% trẻ em dân tộc Thái.

Ở các gia đình có trẻ em phải lao động, tỷ lệ trẻ em thiếu nghiêm trọng ít nhất 1 nhu cầu cơ bản cũng cao hơn: 50% so với 36%. Tỷ lệ này đối với những em trải qua 2 thiếu thốn nghiêm trọng là 21% so với 15%. Điều này cũng có thể hiểu là các gia đình mà trẻ em thường phải đóng góp sức lao động để tạo thu nhập thường là những gia đình nghèo, thiếu nhiều loại nhu cầu cơ bản. Mặt khác, những gia đình “khuyết thiếu” cũng có tỷ lệ trẻ em thiếu ít nhất 1 nhu cầu cơ bản cao hơn (43% so với 39%). Tương tự, những trẻ mồ côi thiếu nghiêm trọng các nhu cầu cơ bản cũng có tỷ lệ cao hơn. Sự khác biệt cũng thể hiện đặc biệt rõ ràng giữa những gia đình có tỷ lệ trẻ em phụ thuộc cao (4 em trở lên) với số gia đình còn lại: 84% so với 39%.

Yếu tố vùng miền có mối liên hệ rõ ràng với tỷ lệ trẻ em trải qua những thiếu thốn nghiêm trọng. Nơi có tỷ lệ thấp nhất về trẻ em thiếu ít nhất một nhu cầu là vùng đồng bằng sông Hồng (12%) và nơi có tỷ lệ cao nhất là vùng Tây Bắc (74%). Vùng Đông Bắc có tỷ lệ trẻ em thiếu ít nhất một loại nhu cầu cũng khá cao (59%) và đứng thứ 2. Đáng ngạc nhiên là vùng đồng bằng sông Cửu Long lại có tỷ lệ cao thứ ba (54%).

Sự khác biệt ở đô thị - nông thôn khá rõ nét. Tỷ lệ trẻ em trải qua ít nhất một thiếu thốn nghiêm trọng ở nông thôn cao gấp 3 lần so với đô thị (45% so với 16%), và đối với số trẻ em thiếu thốn 2 loại nhu cầu trở lên thì cao gấp 6 lần (19% so với 3%). Điều này thể hiện sự bất bình đẳng rất lớn giữa thành thị và nông thôn. Nói cách khác, trẻ em nông thôn phải chịu nhiều thiệt thòi và bất bình đẳng hơn so với trẻ em đô thị.

Sự khác biệt của trẻ em thiếu nghiêm trọng các nhu cầu cơ bản ở các vùng miền
Mức độ khác biệt về tỷ lệ thiếu thốn nghiêm trọng theo từng nhu cầu cũng nhất quán với sự khác biệt chung giữa các vùng, giữa đô thị và nông thôn. Tuy nhiên, có một số thay đổi tuỳ theo đặc điểm của từng vùng. Ví dụ, về mặt nhà ở, tỷ lệ thiếu nghiêm trọng ở vùng đồng bằng sông Cửu Long cao thứ 3 (37%) sau vùng miền núi Tây Bắc (64%) và Đông Bắc (43%), thậm chí cao hơn ở vùng Tây Nguyên (33%). Kết quả này có thể liên quan đến tập quán sinh sống ở vùng đồng bằng sông Cửu Long, nơi mà người dân vốn không quan tâm lắm đến việc xây dựng nhà cửa.

Tỷ lệ trẻ em thiếu nghiêm trọng nhu cầu vệ sinh môi trường cao nhất là ở Tây Bắc và Nam Trung bộ (đều là 34%), tiếp đến là Đông Bắc (33%) và Tây Nguyên (27%). Điều này phù hợp với tỷ lệ nghèo cao ở những vùng này. Vùng Tây Bắc, nơi có tỷ lệ hộ nghèo cao nhất cũng có tỷ lệ trẻ em trải qua sự thiếu thốn nghiêm trọng về nhu cầu nước sạch, thông tin, chăm sóc sức khoẻ và giáo dục.

Tỷ lệ trẻ em trải qua các thiếu thốn nghiêm trọng về các nhu cầu cơ bản có sự khác biệt lớn giữa nông thôn và đô thị, rõ ràng nhất là tỷ lệ trẻ em ở nông thôn thiếu nước sạch cao gấp 10 lần, thiếu thốn về nhu cầu vệ sinh môi trường cao gấp gấn 5 lần, thiếu thông tin cao hơn 4 lần, thiếu nhà ở cao hơn 3 lần và cuối cùng thiếu thốn về nhu cầu chăm sóc sức khoẻ cao hơn 2 lần so với khu vực đô thị.

Từ cách tiếp cận thu nhập/chi tiêu và sự thiếu thốn các nhu cầu của trẻ em, sự phân tích các số liệu của cuộc điều tra thu nhập, chi tiêu, mức sống hộ gia đình và điều tra MICS cho thấy một bộ phận đáng kể trẻ em đang phải sống trong sự nghèo khổ. Có mối liên hệ đáng kể giữa thực trạng nghèo của trẻ em với các đặc điểm cá nhân và hộ gia đình như: Tuổi, giới tính, qui mô gia đình, cấu trúc gia đình, học vấn của chủ hộ, số các thành viên phụ thuộc trong gia đình cũng như các yếu tố về địa lý và dân tộc. Xác suất trẻ em bị rơi vào nghèo đói cũng có mối liên hệ chặt chẽ với các yếu tố về cá nhân và gia đình của các em, cũng như các yếu tố vùng miền và dân tộc. Đặc biệt, khi nước ta hội nhập kinh tế quốc tế thì những chính sách tự do hoá kinh tế có thể ảnh hưởng đến cuộc sống của các gia đình mà trẻ em đang sinh sống. Chính vì vậy, Nhà nước cần có các chính sách an sinh xã hội kịp thời để tạo cơ hội cho trẻ em nghèo phát triển ./.

TS.BS. Hoàng Văn Tiến, Phó Cục trưởng Cục Bảo vệ Chăm sóc Trẻ em
Nguồn: Tạp chí lao động
Xem