Skip Ribbon Commands
Skip to main content
Sign In

Chính sách vinh danh Bà mẹ Việt Nam anh hùng

27/11/2018

Ông Hà Văn Dũng - Xã Khâu Vai, huyện Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang hỏi: Mẹ tôi sinh năm 1946, là vợ liệt sĩ, có một người con gái riêng, sau đó đi bước nữa với bố tôi, là thương binh. Tuy nhiên, mẹ tôi vẫn chăm sóc bố mẹ của liệt sĩ đến khi qua đời và đã hoàn thành nhiệm vụ dâu con của dòng họ.

Hiện nay mẹ tôi và con gái vẫn đang thờ cúng liệt sĩ được trợ cấp 500.000 đồng/năm. Như vậy, căn cứ Nghị định số 56/2013/NĐ-CP ngày 22/5/2013 của Chính phủ và theo Thông tư liên tịch số 03/2014/TTLT-BNV-BQP-BLĐTBXH thì mẹ tôi có thuộc diện được vinh danh Bà mẹ Việt Nam anh hùng không? Nếu được thì trình tự làm thủ tục như thế nào?

Vấn đề này, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội trả lời như sau:

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 2 Nghị định số 56/2013/NĐ-CP ngày 22/5/2013 của Chính phủ, những bà mẹ thuộc một trong các trường hợp sau đây được xét tặng hoặc truy tặng danh hiệu vinh dự Nhà nước “Bà mẹ Việt Nam anh hùng”:

- Có 2 con trở lên là liệt sỹ;

- Chỉ có 2 con mà 1 con là liệt sỹ và 1 con là thương binh suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên;

- Chỉ có 1 con mà người con đó là liệt sỹ;

- Có 1 con là liệt sỹ và có chồng hoặc bản thân là liệt sỹ;

- Có 1 con là liệt sĩ và bản thân là thương binh suy giảm khả năng lao động từ 81 % trở lên.

Như vậy, điều kiện, tiêu chuẩn xét tặng hoặc truy tặng danh hiệu vinh dự Nhà nước “Bà mẹ Việt Nam anh hùng” phải có con là liệt sĩ. Trường hợp không có con là liệt sĩ thì không thuộc diện xét tặng hoặc truy tặng danh hiệu vinh dự Nhà nước “Bà mẹ Việt Nam anh hùng”.

 

 

Xem