Skip Ribbon Commands
Skip to main content
Sign In

Bộ LĐTBXH trả lời kiến nghị về lao động – tiền lương của Hiệp hội chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam

05/09/2018

Ngày 26/01/2018, Hiệp hội chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam có Công văn số 22/2018/CV-VASEP về việc kiến nghị tháo gỡ vướng mắc, bất cập của doanh nghiệp thủy sản về lĩnh vực lao động - BHXH- kinh phí công đoàn.

Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội trả lời những kiến nghị về lao động – tiền lương của Hiệp hội chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam như sau:

1. Về thời hạn thanh toán khi chấm dứt hợp đồng lao động

Theo quy định tại Khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Lao động thì trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động, hai bên có trách nhiệm thanh toán đầy đủ các khoản có liên quan đến quyền lợi của mỗi bên; trường hợp đặc biệt, có thể kéo dài nhưng không được quá 30 ngày.

Căn cứ vào quy định nêu trên thì khi chấm dứt hợp đồng lao động đối với người lao động, người sử dụng lao động phải thanh toán các khoản như tiền lương, trợ cấp thôi việc hoặc trợ cấp mất việc làm và các khoản khác có liên quan cho người lao động theo thời hạn quy định tại Khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Lao động. Về kiến nghị của Hiệp hội chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam đề nghị kéo dài thời gian thanh toán các khoản có liên quan đến quyền lợi của mỗi bên khi chấm dứt hợp đồng lao động, Bộ sẽ nghiên cứu, xem xét trong quá trình xây dựng dự án Bộ luật Lao động (sửa đổi) dự kiến trình Quốc hội cho ý kiến tại kỳ họp tháng 5 năm 2019.

2. Về quy định đối với lao động nữ: nghỉ 30 phút trong thời gian hành kinh; giúp đỡ, hỗ trợ xây dựng nhà trẻ, lớp mẫu giáo

- Theo quy định tại Khoản 5 Điều 155 Bộ luật Lao động, Khoản 2 Điều 7 Nghị định số 85/2015/NĐ-CP thì lao động nữ trong thời gian hành kinh được nghỉ mỗi ngày 30 phút, tối thiểu là 03 ngày trên tháng; thời gian nghỉ cụ thể do người lao động thỏa thuận với người sử dụng lao động phù hợp với điều kiện thực tế tại nơi làm việc và nhu cầu của người lao động nữ.

- Theo quy định tại khoản 4 Điều 154 Bộ luật Lao động, Khoản 1 Điều 9 Nghị định số 85/2015/NĐ-CP thì căn cứ điều kiện cụ thể, người sử dụng lao động xây dựng phương án, kế hoạch giúp đỡ, hỗ trợ, xây dựng nhà trẻ, lớp mẫu giáo hoặc hỗ trợ một phần chi phí gửi trẻ, mẫu giáo đối với lao động nữ có con trong độ tuổi gửi trẻ, mẫu giáo bằng tiền mặt hoặc hiện vật. Mức và thời gian hỗ trợ do người sử dụng lao động thỏa thuận với đại diện lao động nữ. Ngoài ra tại Khoản 2 Điều này còn quy định khuyến khích người sử dụng lao động tổ chức, xây dựng nhà trẻ, lớp mẫu giáo.

Các quy định nêu trên đã thể hiện chính sách lao động đặc thù với lao động nữ, nhằm bảo đảm quyền của lao động nữ, đồng thời tôn trọng quyền tự do thỏa thuận của các bên trong quan hệ lao động. Tuy nhiên, một số quy định còn chưa cụ thể, Bộ sẽ nghiên cứu, xem xét trong quá trình xây dựng dự án Bộ luật Lao động (sửa đổi) dự kiến trình Quốc hội cho ý kiến tại kỳ họp tháng 5 năm 2019.

3. Về quy định không được xử lý kỷ luật lao động đối với người lao động là cha mẹ đẻ, cha mẹ nuôi đang nuôi con nhỏ dưới 12 tháng tuổi

- Tại điểm d khoản 4 Điều 123 của Bộ luật Lao động năm 2012 quy định không được xử lý kỷ luật lao động đối với lao động nữ có thai, nghỉ thai sản; người lao động nuôi con nhỏ dưới 12 tháng tuổi.

- Khoản 3 Điều 68 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định giữa con nuôi và cha nuôi, mẹ nuôi có các quyền và nghĩa vụ của cha mẹ và con được quy định tại Luật này, Luật nuôi con nuôi, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

- Căn cứ quy định nêu trên, tại Điểm d Khoản 4 Điều 123 của Bộ luật Lao động, Điều 29 Nghị định số 05/2013/NĐ-CP ngày 12/01/2015 của Chính phủ đã quy định người sử dụng lao động không được xử lý kỷ luật lao động đối với người lao động là cha đẻ, mẹ đẻ hoặc cha nuôi, mẹ nuôi hợp pháp đang nuôi con nhỏ dưới 12 tháng tuổi, khi hết thời gian nuôi con nhỏ dưới 12 tháng tuổi, mà thời hiệu xử lý kỷ luật đã hết thì được kéo dài thời hiệu xử lý kỷ luật lao động, nhưng tối đa không quá 60 ngày, kể từ ngày hết thời gian nuôi con nhỏ dưới 12 tháng tuổi.

Tuy nhiên, trên thực tế hiện nay, nhiều trường hợp người lao động là cha đẻ, cha nuôi (không trực tiếp nuôi con nuôi lợi dụng quy định này để vi phạm nội quy lao động của doanh nghiệp mà không bị xử lý kỷ luật lao động do đang trong thời gian nuôi con nhỏ dưới 12 tháng tuổi. Vấn đề này được quy định tại Bộ luật Lao động (Điểm d Khoản 4 Điều 123), vì vậy, Bộ ghi nhận ý kiến góp ý của quý Hiệp hội để tổng hợp, nghiên cứu, xem xét trong quá trình xây dựng dự án Bộ luật Lao động (sửa đổi), tránh trường hợp người lao động lợi dụng quy định này để vi phạm pháp luật.

4. Về trợ cấp thôi việc cho người nước ngoài

- Theo Điều 2 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2006, Khoản 1 Điều 3, Điều 43 của Luật Việc làm thì người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam không thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp.

- Theo quy định tại Khoản 2 Điều 2 và Khoản 1 Điều 124 của Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 thì kể từ ngày 01/01/2018 thì người lao động là công dân nước ngoài vào làm việc tại Việt Nam có giấy phép lao động hoặc chứng chỉ hành nghề hoặc giấy phép hành nghề do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp được tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc theo quy định của Chính phủ.

- Theo quy định tại Điều 48 của Bộ luật Lao động và Điều 14 Nghị định số 05/2015/NĐ-CP ngày 12/01/2015 của Chính phủ thì người sử dụng lao động có trách nhiệm chi trả trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 48 của Bộ luật Lao động cho người lao động đã làm việc thường xuyên cho mình từ đủ 12 tháng trở lên khi hợp đồng lao động chấm dứt theo quy định tại các Khoản 1, 2, 3, 5, 6, 7, 9 Điều 36 và người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại Điều 38 của Bộ luật Lao động.

Hiện nay, pháp luật lao động quy định về trợ cấp thôi việc không có sự phân biệt giữa người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam và người lao động Việt Nam. Vì vậy, khi người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam chấm dứt hợp đồng lao động đúng pháp luật thì người sử dụng lao động có trách nhiệm chi trả trợ cấp thôi việc theo đúng quy định tại Điều 48 của Bộ luật Lao động nêu trên. Cách tính trợ cấp thôi việc được thực hiện theo quy định tại Khoản 3 Điều 14 Nghị định số 05/2015/NĐ-CP nêu trên.

Bộ ghi nhận ý kiến góp ý của quý Hiệp hội để tổng hợp, nghiên cứu, xem xét trong quá trình sửa đổi pháp luật lao động và pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp.

5. Về việc tăng lương tối thiểu vùng

Theo quy định tại Điều 91 của Bộ luật Lao động thì mức lương tối thiểu vùng được điều chỉnh căn cứ vào nhu cầu sống tối thiểu của người lao động và gia đình họ; điều kiện kinh tế - xã hội và mức tiền lương trên thị trường lao động. Căn cứ quy định trên, hằng năm Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội với vai trò là thành viên của Hội đồng tiền lương quốc gia tham gia đã phân tích, đánh giá thực tế, thương lượng, thống nhất phương án điều chỉnh mức lương tối thiểu vùng và khuyến nghị với Chính phủ công bố mức điều chỉnh tiền lương tối thiểu. Đối với kiến nghị của quý Hiệp hội, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ghi nhận và sẽ phối hợp với các thành viên trong Hội đồng tiền lương quốc gia để thảo luận, phân tích và đề xuất với Chính phủ xem xét, quyết định cho phù hợp.

 

 

Xem