Skip Ribbon Commands
Skip to main content
Sign In

Bộ LĐTBXH trả lời kiến nghị về bảo hiểm xã hội của Hiệp hội chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam

05/09/2018

Ngày 26/01/2018, Hiệp hội chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam có Công văn số 22/2018/CV-VASEP về việc kiến nghị tháo gỡ vướng mắc, bất cập của doanh nghiệp thủy sản về lĩnh vực lao động - BHXH- kinh phí công đoàn.

Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội trả lời những kiến nghị về bảo hiểm xã hội của Hiệp hội chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam như sau:

1. Về ý kiến cho rằng tỷ lệ đóng BHXH của Việt Nam cao và kiến nghị giảm tỷ lệ đóng BHXH 4% trở về mức đóng BHXH năm 2010 (doanh nghiệp đóng 16% và người lao động đóng 6%).

Chính sách bảo hiểm xã hội ở mỗi quốc gia được thiết kế khác nhau và phụ thuộc vào điều kiện kinh tế, lịch sử của mỗi nước. Chính vì vậy, rất khó để so sánh, đánh giá tỷ lệ đóng bảo hiểm xã hội của một nước là cao hay thấp so với những nước còn lại vì nó phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố khác nhau. Việc đánh giá tỷ lệ đóng bảo hiểm xã hội cần được xem xét trong mối quan hệ với quyền lợi hưởng các chế độ, các yếu tố kinh tế vĩ mô như sự phát triển kinh tế, GDP bình quân đầu người, cơ cấu kinh tế, sự phát triển của thị trường lao động, chi phí lao động ...

Xét về tỷ lệ đóng bảo hiểm xã hội thì Việt Nam là một trong những nước có tỷ lệ đóng bảo hiểm xã hội cao trong khu vực với tỷ lệ đóng là 27,5% (không tính bảo hiểm y tế), tuy nhiên cũng có một số nước có mức đóng cao hơn Việt Nam như Singapore là 37%, Trung Quốc là 38,5% và Ấn Độ là 35%. Bên cạnh đó, theo số liệu thống kê cũng cho thấy tiền lương làm căn cứ đóng BHXH bắt buộc của Việt Nam thấp hơn nhiều so với tiền lương thực tế của người lao động (nhiều doanh nghiệp tiền lương đóng chỉ bằng khoảng 50% tiền lương thực tế của người lao động). Trong khi đó, tỷ lệ hưởng các chế độ BHXH của Việt Nam được đánh giá cao hơn nhiều so với các nước, đặc biệt là đối với chế độ hưu trí, chế độ thai sản,..

Trong thời gian qua, thực hiện các Nghị quyết của Chính phủ về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia; về hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp đến năm 2020; Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đã phối hợp với các Bộ, ngành liên quan tiến hành đánh giá tỷ lệ đóng, hưởng của các quỹ bảo hiểm xã hội, trên cơ sở đó đã trình Chính phủ ban hành Nghị định số 44/2017/NĐ-CP ngày 14/4/2017 quy định giảm mức đóng vào quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp cho doanh nghiệp từ 1% xuống còn 0,5% từ ngày 01/6/2017.

Ngày 23/5/2018, Ban Chấp hành Trung ương khóa XII đã ban hành Nghị quyết số 28/NQ-TW về cải cách chính sách bảo hiểm xã hội, trong đó có nội dung cải cách về điều chỉnh tỷ lệ đóng như sau: “... Nghiên cứu điều chỉnh tỉ lệ đóng vào Quỹ bảo hiểm xã hội theo hướng hài hoà quyền lợi giữa người sử dụng lao động và người lao động”. Do vậy, trong thời gian tới Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội sẽ bám sát nội dung cải cách nêu trên của Nghị quyết số 28/NQTW để tiếp tục phối hợp với các Bộ, ngành liên quan nghiên cứu, đánh giá và đề xuất phương án phù hợp báo cáo Chính phủ, Quốc hội.

2. Về tham gia bảo hiểm xã hội cho người lao động làm việc dưới 3 tháng

Để cụ thể hóa quan điểm của Đảng, Nhà nước về mở rộng diện bao phủ tham gia BHXH và bảo đảm quyền thụ hưởng chế độ BHXH của người lao động, Luật BHXH năm 2014 đã bổ sung đối tượng tham gia BHXH bắt buộc đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 01 tháng đến dưới 03 tháng.

Việc quy định đối tượng tham gia BHXH bắt buộc đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 01 tháng đến dưới 03 tháng nhằm đảm bảo quyền thụ hưởng các chế độ BHXH khi nhóm đối tượng này bị ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp trong quá trình lao động, đồng thời tích lũy quá trình đóng bảo hiểm xã hội trong quá trình làm việc để đủ điều kiện hưởng lương hưu khi hết tuổi lao động (thời gian đóng BHXH không liên tục thì được cộng dồn). Mặt khác, việc quy định bổ sung đối tượng tham gia BHXH bắt buộc đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 01 tháng đến dưới 03 tháng không làm tăng chi phí cho các doanh nghiệp, bởi theo quy định tại Khoản 3 Điều 186 Bộ luật Lao động thì trước ngày 01/01/2018 người lao động làm việc theo hợp đồng lao động từ đủ 01 đến dưới 03 tháng không thuộc đối tượng tham gia BHXH bắt buộc thì người sử dụng lao động phải có trách nhiệm chi trả thêm cùng lúc với kỳ trả lương của người lao động một khoản tiền cho người lao động tương ứng với mức đóng BHXH.

3. Về tỷ lệ hưởng lương hưu đối với lao động nữ

Về vấn đề này, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đã phối hợp với các cơ quan liên quan rà soát, đánh giá tác động và báo cáo Chính phủ có Tờ trình số 231/TTr-CP ngày 14/5/2018 báo cáo Quốc hội.

Ngày 15/6/2018, Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 64/2018/QH14, trong đó giao Chính phủ ban hành quy định thực hiện chính sách điều chỉnh lương hưu đối với lao động nữ bắt đầu hưởng lương hưu từ ngày 01/01/2018 đến ngày 31/12/2021 bị tác động bất lợi hơn so với lao động nam do thay đổi cách tính lương hưu.

Ngày 13/7/2018, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội có Công văn số 2830/LĐTBXH-BHXH gửi một số Bộ, ngành, cơ quan xin ý kiến về dự thảo Nghị định về việc điều chỉnh lương hưu đối với số lao động nữ bắt đầu hưởng lương hưu trong giai đoạn từ năm 2018 đến năm 2021. Hiện nay, Bộ LĐTBXH đang tổng hợp ý kiến tham gia của các Bộ, ngành, cơ quan trước khi trình Chính phủ xem xét, ban hành.

4. Về tỷ lệ giảm trừ cho mỗi năm về hưu trước tuổi đối với ngành sử dụng nhiều lao động như thủy sản, dệt may, điện tử ... từ 2% xuống 1%.

Để đảm bảo tốt hơn nguyên tắc đóng – hưởng, sự bền vững lâu dài của quỹ hưu trí và tử tuất và sự công bằng trong tham gia và thụ hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội, Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 đã sửa đổi, bổ sung nhiều quy định trong cách tính đóng, hưởng của chế độ hưu trí, trong đó có quy định tăng tỷ lệ giảm trừ tỷ lệ hưởng lương hưu do nghỉ hưu trước tuổi từ 1% lên 2% cho mỗi năm nghỉ hưu trước tuổi so với Luật BHXH năm 2006.

Thực tế, theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội trước Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 thì người lao động có từ đủ 20 năm đóng BHXH trở lên và bị suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên thì được nghỉ việc hưởng lương hưu sớm hơn tối đa 10 tuổi so với đối tượng khác và tỷ lệ giảm trừ chỉ là 1% cho mỗi năm nghỉ hưu trước tuổi. Quy định này không đảm bảo nguyên tắc đóng - hưởng, khi tính hưởng lương hưu thì mỗi năm đóng BHXH người lao động được tính 3% đối với nữ và 2,5% đối với nam nhưng khi nghỉ hưu trước tuổi thì mỗi năm chỉ bị trừ 1% (Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) khuyến nghị và nhiều nước thực hiện trừ 5-6% cho mỗi năm nghỉ hưu trước tuổi quy định), trong khi đó người lao động nghỉ hưu trước tuổi thì sẽ hưởng lương hưu sớm hơn và dừng đóng vào quỹ sớm hơn so với các đối tượng khác. Theo số liệu thống kê những năm qua cho thấy, trong tổng số những người nghỉ việc hưởng lương hưu thì có khoảng 60% người nghỉ hưu trước tuổi; tuy nhiên, nhiều điều tra cho thấy nhiều người lao động sau khi xin nghỉ hưu sớm do suy giảm khả năng lao động sau đó vẫn tiếp tục làm việc (không phải đóng BHXH).

Chính vì vậy, việc Luật bảo hiểm xã hội năm 2014 quy định tăng tỷ lệ giảm trừ tỷ lệ hưởng lương hưu do nghỉ hưu trước tuổi từ 1% lên 2% cho mỗi năm nghỉ hưu trước tuổi là phù hợp. Mặt khác, Luật bảo hiểm xã hội cũng đã quy định đối với người lao động làm nghề hoặc công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm thì được nghỉ hưu sớm hơn lao động làm việc trong điều kiện bình thường tối đa là 5 tuổi mà không phải trừ tỷ lệ % hưởng lương hưu do nghỉ hưu trước tuổi quy định.

5. Về việc không nên khống chế mức đóng BHXH tối đa

Bảo hiểm xã hội là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết trên cơ sở đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội. Mức hưởng bảo hiểm xã hội được tính trên cơ sở mức đóng, thời gian đóng bảo hiểm xã hội và có chia sẻ giữa những người tham gia bảo hiểm xã hội.

Bảo hiểm xã hội là chính sách của Nhà nước, quỹ bảo hiểm xã hội được nhà nước bảo hộ. Nhà nước bảo hộ quỹ nhằm đảm bảo cho người lao động được thụ hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội ở mức cơ bản. Ngoài ra, nếu có điều kiện và nhu cầu thì người lao động, người sử dụng lao động có thể tham gia các loại hình bảo hiểm khác để được mức thụ hưởng cao hơn. Chính vì vậy, Luật bảo hiểm xã hội năm 2006 đã quy định mức trần tiền lương tháng đóng BHXH bắt buộc cao nhất bằng 20 tháng lương tối thiểu chung (nay là mức lương cơ sở) và được kế thừa tiếp tục quy định trong Luật bảo hiểm xã hội năm 2014.

Trên thực tế, thời kỳ trước Luật bảo hiểm xã hội năm 2006 do không có quy định về trần đóng BHXH bắt buộc nên dẫn đến có sự chênh lệch quá lớn về mức hưởng chế độ bảo hiểm xã hội giữa những người tham gia, đặc biệt là chế độ hưu trí (cá biệt có người có lương hưu cao hơn 100 triệu đồng/tháng, trong khi đó nhiều người chỉ hưởng lương hưu bằng mức lương cơ sở, hiện nay là 1,39 triệu đồng/tháng).

Chính vì vậy, việc quy định trần đóng BHXH bắt buộc như hiện nay là hợp lý, hoàn toàn phù hợp với quan điểm, định hướng tại Nghị quyết số 28/NQTW ngày 23/1/2018 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII về cải cách chính sách bảo hiểm xã hội, đây cũng là quy định phù hợp với xu hướng chung của các nước. Đối với những người sử dụng lao động, người lao động nếu có nhu cầu, điều kiện thì ngoài việc tham gia BHXH bắt buộc theo quy định, có thể tham gia đóng góp bảo hiểm hưu trí bổ sung để được hưởng mức lương hưu cao hơn.

6. Về chính sách an sinh xã hội chưa công bằng giữa khu vực Nhà nước (bình quân một số năm cuối) và tư nhân (bình quân toàn bộ quá trình)

Chính sách BHXH ở Việt Nam bắt đầu thực hiện từ năm 1962 theo Nghị định số 218/CP ngày 27 tháng 12 năm 1961 của Hội đồng Chính phủ ban hành Điều lệ tạm thời về các chế độ BHXH đối với công nhân viên chức Nhà nước, bao gồm chủ yếu các chính sách về hưu trí, tử tuất, ốm đau, thai sản và tai nạn lao động, đối tượng chỉ bao gồm lao động khu vực nhà nước. Ngân sách nhà nước chịu trách nhiệm chi trả các chế độ BHXH. Bước vào thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế, với sự phát triển của nền kinh tế nhiều thành phần, chính sách BHXH cũng từng bước được sửa đổi, bổ sung, mở rộng ra các khu vực kinh tế khác.

Do nguyên nhân khách quan, chính sách BHXH phát triển cùng với sự thay đổi nền kinh tế nước ta chuyển từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang kinh tế thị trường, Nhà nước phải kế thừa trách nhiệm đối với lao động đã làm việc cho khu vực nhà nước trước đây nay chuyển sang cơ chế đóng - hưởng. Chính vì vậy, để đảm bảo nguyên tắc công bằng, bình đẳng trong tham gia và thụ hưởng chính sách BHXH cần có lộ trình thực hiện, cụ thể:

- Trước ngày 01/01/2007, cách tính mức bình quân tiền lương tháng đóng BHXH để tính lương hưu đối với người lao động thuộc khu vực nhà nước tính bình quân 5 năm cuối, còn người lao động thuộc khu vực ngoài nhà nước thì tính bình quân toàn bộ quá trình đóng. Điều này tạo ra sự không công bằng trong tham gia và thụ hưởng BHXH giữa người lao động thuộc khu vực nhà nước và khu vực ngoài nhà nước.

- Từ ngày 01/01/2007 trở đi, theo quy định của Luật BHXH năm 2006, đối với người lao động thuộc khu vực nhà nước thì tính bình quân 5 năm, 6 năm, 8 năm hoặc 10 năm cuối cùng trước khi nghỉ hưu tùy thuộc vào thời gian bắt đầu tham gia BHXH. Như vậy, Luật BHXH năm 2006 đã có một bước tiến trong việc tạo nên sự bình đẳng hơn trong cách tính mức bình quân giữa khu vực nhà nước và khu vực ngoài nhà nước.

- Luật bảo hiểm xã hội năm 2014 đã quy định bổ sung thêm 2 lộ trình tính bình quân 15 năm, 20 năm cuối, sau đó thực hiện tính bình quân toàn bộ quá trình đóng bảo hiểm xã hội đối với người lao động thuộc khu vực nhà nước.

Như vậy, Luật BHXH năm 2014 tiếp nối quy định của Luật bảo hiểm xã hội năm 2006, thực hiện lộ trình tiến tới đảm bảo bình đẳng trong cách tính mức bình quân tiền lương tháng đóng BHXH để tính lương hưu giữa người lao động khu vực nhà nước và ngoài nhà nước. Đối với người lao động thuộc khu vực nhà nước bắt đầu tham gia BHXH từ năm 2025 trở đi thì khi nghỉ hưu sẽ tính bình quân toàn bộ quá trình đóng như người lao động thuộc khu vực ngoài.

7. Về lãi phạt chậm đóng bảo hiểm xã hội

Theo quy định được nộp chậm 30 ngày, nhưng nếu qua ngày thứ 31 mới nộp (chậm 1 ngày) thì bị lãi phạt 1 tháng; kiến nghị được tính lãi chậm đóng theo đúng số ngày chậm đóng | Luật bảo hiểm xã hội quy định trách nhiệm của người sử dụng lao động hằng tháng đóng trên quỹ tiền lương đóng bảo hiểm xã hội của người lao động và trích từ tiền lương của người lao động theo quy định để đóng cùng một lúc vào quỹ bảo hiểm xã hội. Như vậy, theo quy định của luật thì hằng tháng người sử dụng lao động phải có trách nhiệm đóng bảo hiểm xã hội đầy đủ, kịp thời vào quỹ bảo hiểm xã hội để thực hiện các chế độ bảo hiểm xã hội cho người lao động.

Kết thúc tháng mà người lao động chưa đóng BHXH của tháng đó là vị phạm hành vi chậm đóng tiền bảo hiểm xã hội theo khoản 2 Điều 17 của Luật hiểm xã hội về các hành vi bị nghiêm cấm. Tuy nhiên, tại khoản 3 Điều 122 của Luật bảo hiểm xã hội quy định: “Người sử dụng lao động có hành vi vi phạm quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều 17 của Luật này từ 30 ngày trở lên thì ngoài việc phải đóng đủ số tiền chưa đóng, chậm đóng và bị xử lý theo quy định của pháp luật, còn phải nộp số tiền lãi bằng 02 lần mức lãi suất đầu tư quỹ bảo hiểm xã hội bình quân của năm trước liền kề tính trên số tiền, thời gian chậm đóng;..”, quy định này cũng đã nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho người sử dụng lao động trong việc thực hiện trách nhiệm đóng BHXH cho người lao động.

8. Về kiến nghị cho phép doanh nghiệp không phải đóng BHXH khi người lao động không làm việc và không hưởng tiền lương từ 11 ngày làm việc trở lên trong tháng

Theo quy định của Luật BHXH thì hiện nay việc tham gia BHXH được thực hiện theo tháng, không quy định việc tham gia BHXH theo ngày hoặc theo tuần. Chính vì vậy, tại khoản 3 Điều 85 và khoản 4 Điều 86 của Luật bảo hiểm xã hội quy định người lao động không làm việc và không hưởng tiền lương từ 14 ngày làm việc trở lên trong tháng (trên % thời gian làm việc tiêu chuẩn của tháng) thì người lao động và người sử dụng lao động không đóng bảo hiểm xã hội tháng đó.

Quy định nêu trên đã được quy định từ năm 2007 (từ Luật bảo hiểm xã hội năm 2006) và được kế thừa tiếp tục quy định tại Luật bảo hiểm xã hội năm 2014. Trong quá trình tổ chức lấy ý kiến khi xây dựng Luật bảo hiểm xã hội năm 2014, quy định này cơ bản nhận được sự thống nhất của các cơ quan, tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp tham gia ý kiến.

9. Về trợ cấp thất nghiệp

Quy định về thời gian đóng, hưởng BHTN còn bất cập, cụ thể: nếu NLĐ đóng đủ 12 đến 36 tháng thì được hưởng 03 tháng trợ cấp thất nghiệp, sau đó cứ đóng thêm 12 tháng được hưởng thêm 01 tháng nhưng tối đa không quá 12 tháng. Quy định này đã bị NLĐ đặc biệt là lao động trẻ lợi dụng nhảy việc theo cách chỉ đi làm 12 tháng sau đó xin thôi việc để hưởng 03 tháng trợ cấp thất nghiệp rồi tìm việc làm ở DN khác. Đây là vấn đề gây vỡ quỹ và tăng biến động lao động, tăng chi phí tuyên dụng, đào tạo của doanh nghiệp.

Trong quá trình xây dựng chính sách bảo hiểm thất nghiệp tại Luật Việc làm, Ban soạn thảo dã nghiên cứu kinh nghiệm của các quốc gia thực hiện thành công chính sách bảo hiểm thất nghiệp/bảo hiểm việc làm (Canada, Hàn Quốc, Nhật Bản, Thái Lan,...) và quy chuẩn quốc tế về bảo hiểm thất nghiệp thì:

- Theo quy định tại Điều 15 Công ước số 168 của Tổ chức Lao động Quốc tế về xúc tiến việc làm và bảo vệ chống thất nghiệp thì mức trợ cấp thất nghiệp không ít hơn 45% của thu nhập trước đó hoặc không ít hơn 45% của tiền lương tối thiểu theo quy định hoặc của tiền lương của người lao động bình thường nhưng không ít hơn mức có thể đảm bảo mức sống cơ bản tối thiểu; Điều 24 Công ước số 102 của Tổ chức Lao động Quốc tế về quy phạm tối thiểu về an toàn xã hội thì thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp tối thiểu là 12 tuần (3 tháng) trong thời kỳ 12 tháng.

- Tại Điều 48 Bộ luật Lao động quy định trách nhiệm của người sử dụng lao động trong việc chi trả trợ cấp thôi việc cho người lao động đã làm việc thường xuyên từ đủ 12 tháng trở lên khi chấm dứt hợp đồng lao động thuộc một trong các trường hợp theo quy định, mỗi năm làm việc được trợ cấp 2 tháng tiền lương (50% mức tiền lương); Tại Điều 49 Bộ luật Lao động quy định trách nhiệm của người sử dụng lao động trong việc chi trả trợ cấp mất việc làm cho người lao động đã làm việc thường xuyên cho mình từ 12 tháng trở lên mà bị mất việc làm trong các trường hợp theo quy định, mỗi năm làm việc trả 01 tháng tiền lương (100% mức tiền lương) nhưng ít nhất phải bằng 02 tháng tiền lương (tối thiểu 200% mức tiền lương).

Như vậy, thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp tối thiểu đủ 12 tháng để được hưởng trợ cấp thất nghiệp tối thiểu là 03 tháng với mức hưởng là 60% mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp (180%) là tương đối phù hợp với thông lệ quốc tế và các mức trợ cấp mà người lao động được nhận khi mất việc làm theo quy định hiện hành, đồng thời, đảm bảo quyền lợi của người lao động, giảm bớt khó khăn trong thời gian thất nghiệp và hỗ trợ người thất nghiệp nhanh chóng tìm được việc làm thông qua các chế độ tư vấn, giới thiệu việc làm và hỗ trợ học nghề.

Về kiến nghị của hiệp hội, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội sẽ nghiên cứu, tiếp thu và báo cáo cấp có thẩm quyền khi sửa đổi, bổ sung Luật Việc làm.

Xem