Skip Ribbon Commands
Skip to main content
Sign In

Kết quả công tác lao động, người có công và xã hội năm 2015

25/12/2015

Năm 2015 cả nước tạo việc làm cho 1.625 nghìn lao động, đạt 101,6% kế hoạch năm, tăng 1,6% so với thực hiện năm 2014, trong đó: Tạo việc làm trong nước cho khoảng 1.510 nghìn lao động, đạt 100% kế hoạch, tăng 1,1% so với thực hiện năm 2014; xuất khẩu lao động khoảng 115 nghìn người, đạt 127,8% kế hoạch, tăng 8,5% so với năm 2014.

I. KẾT QUẢ THỰC HIỆN CHỈ TIÊU, NHIỆM VỤ:
1. Về hoàn thiện thể chế:
Trong 05 năm (2011-2015) Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đã tham mưu cho Bộ Chính trị, Ban Bí thư ban hành 05 Chỉ thị; trình Quốc hội ban hành 05 Bộ luật, luật, Nghị quyết; trình Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành 01 Pháp lệnh; tham mưu trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành 04 Chỉ thị, 03 Nghị quyết, 66 Nghị định, 62 Quyết định; ban hành theo thẩm quyền và phối hợp ban hành 229 Thông tư, Thông tư liên tịch.
Riêng trong năm 2015, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đã trình Quốc hội ban hành 01 Luật, 01 Nghị quyết; trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành 16 Nghị định, 13 Quyết định; ban hành theo thẩm quyền và phối hợp ban hành 67 Thông tư, Thông tư liên tịch.
2. Về Lao động - Việc làm
a. Tạo việc làm, phát triển thị trường lao động:
Năm 2015 cả nước tạo việc làm cho 1.625 nghìn lao động, đạt 101,6% kế hoạch năm, tăng 1,6% so với thực hiện năm 2014, trong đó:  Tạo việc làm trong nước cho khoảng 1.510 nghìn lao động, đạt 100% kế hoạch, tăng 1,1% so với thực hiện năm 2014; xuất khẩu lao động khoảng 115 nghìn người, đạt 127,8% kế hoạch, tăng 8,5% so với năm 2014.
Tổng 5 năm 2011 - 2015 cả nước đã tạo việc làm cho khoảng 7.827 nghìn người, đạt 97,8% mục tiêu đề ra đầu nhiệm kỳ và bằng 97,3% so với thực hiện giai đoạn 5 năm trước (2006 - 2010); trong đó: Tạo việc làm trong nước khoảng 7.349 nghìn người, đạt 97,3% kế hoạch, bằng 96,2% so với thực hiện giai đoạn 5 năm trước; xuất khẩu lao động trên 478 nghìn người, đạt 106,2% kế hoạch, tăng 16,7% so với 5 năm trước.
       Tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi khu vực thành thị dưới 4%, đạt mục tiêu kế hoạch 5 năm.
b) Thực hiện chính sách tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, an toàn, vệ sinh lao động, cải thiện quan hệ lao động và quản lý lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam.
Đã thực hiện thống nhất mức lương tối thiểu vùng giữa doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài từ tháng 10/2011 (sớm hơn lộ trình 1 năm theo cam kết khi gia nhập WTO); mức lương tối thiểu vùng năm 2015 tăng bình quân trên 2,3 lần so với năm 2011. Thu nhập bình quân/tháng từ việc làm chính của lao động làm công hưởng lương quý III/2015 là 4,61 triệu đồng, tăng khoảng 1,9 triệu so với so năm 2010.
Đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội (BHXH) tính đến tháng 10 năm 2015 đạt trên 12,07 triệu người, chiếm trên 23% lực lượng lao động (trong đó, tham gia BHXH bắt buộc trên 11,85 triệu người, tăng trên 2,25 triệu người so với cuối năm 2010; tham gia BHXH tự nguyện trên 223 nghìn người, tăng trên 148 nghìn người so với cuối năm 2010).
Trên 9,9 triệu người tham gia bảo hiểm thất nghiệp, tăng 3,6 triệu người so với cuối năm 2010. Tính từ tháng 01/2011 đến cuối năm 2015 có trên 2,07 triệu lượt người được hưởng trợ cấp thất nghiệp; trên 1,7 triệu lượt người tư vấn, giới thiệu việc làm; trên 122 nghìn lượt người được hỗ trợ học nghề...
Quan hệ lao động được cải thiện, tranh chấp lao động, đình công có xu hướng giảm dần qua các năm; trong năm đã xảy ra 245 cuộc đình công trên phạm vi cả nước, giảm 24 cuộc so với năm 2014.
An toàn, vệ sinh lao động từng bước được cải thiện; tần xuất tai nạn lao động, số vụ tai nạn lao động nghiêm trọng, chết người có xu hướng giảm qua các năm. Các sự cố tai nạn lao động nghiêm trọng được xử lý kịp thời, hạn chế được nhiều thiệt hại.
       Công tác quản lý lao động người nước ngoài làm việc tại Việt Nam được tăng cường; các thủ tục hành chính được đơn giản hóa, tạo thuận lợi cho nhà đầu tư đồng thời đảm bảo thực hiện đúng các quy định của Pháp luật về lao động.
c) Dạy nghề
Tính đến nay cả nước có 1.463 cơ sở dạy nghề, gồm: 190 trường cao đẳng nghề (48 trường ngoài công lập), tăng 67 trường so với cuối năm 2010 (trong đó có 48 trường ngoài công lập); 280 trường trung cấp nghề, giảm 24 trường so với cuối năm 2010 (102 trường ngoài công lập) và 993 trung tâm dạy nghề (340 trung tâm dạy nghề ngoài công lập), tăng 205 trung tâm so với cuối năm 2010. Các điều kiện đảm bảo chất lượng dạy nghề được tăng cường, đầu tư cho dạy nghề theo hướng tập trung, đồng bộ theo các nghề trọng điểm tránh lãng phí và dàn trải, góp phần nâng cao chất lượng dạy nghề và gắn với thị trường lao động.
Năm 2015 tuyển mới dạy nghề khoảng 2.150 nghìn người, đạt 100% kế hoạch, tăng 6,3% so với thực hiện năm 2014, trong đó: Tuyển mới cao đẳng, trung cấp nghề 250 nghìn người, tăng 13,3% so với năm 2014; sơ cấp nghề và dạy nghề dưới 3 tháng cho 1.900 nghìn người, tăng 5,4% so với thực hiện năm 2014 (trong đó dạy nghề cho khoảng 550 nghìn lao động nông thôn).
Tổng  5 năm (2011 - 2015) tuyển mới dạy nghề gần 9.171 nghìn người, đạt 93,1% kế hoạch, tăng trên 20% so với giai đoạn 2006 - 2010; trong đó: Tuyển mới cao đẳng, trung cấp nghề gần 1.121 nghìn người, đạt 53,4% kế hoạch; sơ cấp nghề và dạy nghề thường xuyên dưới 3 tháng gần 8.050 nghìn người, đạt 103,9% kế hoạch (trong đó, hỗ trợ dạy nghề cho gần 2.375 nghìn lao động nông thôn theo Quyết định 1956/QĐ-TTg, đạt 79,1% kế hoạch). Tổng 5 năm dự kiến có trên 8.650 nghìn người tốt nghiệp học nghề (trong đó: Trình độ cao đẳng, trung cấp trên 1.000 nghìn người; sơ cấp và dạy nghề dưới 3 tháng gần 7.650 nghìn người); tỷ lệ học có việc làm sau khi tốt nghiệp đạt khoảng 70%.
Tỷ lệ lao động qua đào tạo cuối năm 2015 đạt 51,6%, tăng 11,6% so với cuối năm 2010.
2. Chăm sóc người có công:
Tổ chức chi trả đầy đủ, kịp thời trợ cấp ưu đãi thường xuyên cho trên 1,4 triệu người có công; thực hiện đầy đủ các chính sách về chăm sóc sức khỏe, trang cấp, ưu đãi giáo dục và các chính sách ưu đãi khác đối với người có công. Phối hợp với Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tổ chức tổng rà soát thực hiện chính sách ưu đãi đối với người có công với cách mạng theo Chỉ thị số 23/CT-TTg ngày 27/10/2013 với tổng số đối tượng được rà soát là 2.070.842 người. Tổng hợp kết quả rà soát: Số người có công hưởng đúng, hưởng đủ chính sách là 1.982.769 người (chiếm tỷ lệ 95,75%); số đối tượng hưởng chưa đầy đủ chính sách là 86.201 người (chiếm tỷ lệ 4,16%); số đối tượng hưởng sai chính sách là 1.872 người (chiếm tỷ lệ 0,09%).
Tiếp tục giải quyết chính sách đối với hồ sơ người có công còn tồn đọng: Theo báo cáo của các địa phương hiện cả nước còn 71.687 trường hợp kê khai đề nghị giải quyết chế độ người có công, trong đó đã giải quyết chế độ ưu đãi người có công cho 10.682 trường hợp.
Các phong trào “Đền ơn đáp nghĩa”, “Uống nước nhớ nguồn”, “Xã, phường làm tốt công tác thương binh, liệt sỹ, người có công” được phát triển sâu rộng ở tất cả các địa phương, nhằm huy động mọi nguồn lực trong xã hội, cộng đồng cùng nhà nước chăm sóc tốt hơn đời sống vật chất, tinh thần của người có công với cách mạng; đào tạo, bồi dưỡng thế hệ con em người có công tiếp tục phát huy truyền thống, đóng góp cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước.
Giai đoạn 2011 - 2015, cả nước đã huy động trên 1.250 tỷ đồng xây dựng Quỹ đền ơn đáp nghĩa; xây mới khoảng 46 nghìn nhà tình nghĩa, sửa chữa trên 43 nghìn nhà với trên 10,6 nghìn tỷ đồng; gần 11 nghìn bà mẹ Việt Nam anh hùng còn sống được các cơ quan, đơn vị nhận chăm sóc, phụng dưỡng... Ước đến cuối năm 2015 có 98,5% hộ gia đình chính sách người có công có mức sống bằng hoặc cao hơn mức sống trung bình hộ dân cư nơi cư trú, tăng thêm 8,5% số hộ so với năm 2010; 98% xã, phường làm tốt công tác thương binh, liệt sĩ và người có công, tăng thêm 6% số xã/phường so với năm 2010.
3. Các lĩnh vực xã hội
a) Về giảm nghèo:
Trình Chính phủ ban hành và tổ chức thực hiện đồng bộ, hiệu quả Nghị quyết 80/NQ-CP ngày 19/5/2011 về định hướng giảm nghèo bền vững giai đoạn 2011- 2020, Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2012- 2015 theo hướng ưu tiên tập trung nguồn lực, xây dựng các giải pháp cụ thể, đầu tư có trọng tâm, trọng điểm nhằm giảm nghèo nhanh và bền vững, nhất là đối với những địa bàn khó khăn, vùng đồng bào dân tộc và miền núi.
Thực hiện đầy đủ, hiệu quả các chính sách giảm nghèo; thực hiện các chính sách đặc thù trên địa bàn các huyện nghèo theo Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP ngày 27/12/2008 của Chính phủ; sử dụng kinh phí Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững đảm bảo hiệu quả, đúng mục tiêu.
Tổ chức sơ kết đánh giá 5 năm thực hiện Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP ngày 27/12/2008 của Chính phủ; phối hợp với các bộ, ngành tổ chức rà soát lại các chính sách giảm nghèo hiện hành, nghiên cứu đề xuất một số chính sách mới đối với hộ nghèo đồng bào dân tộc thiểu số, vùng nghèo. Trình Chính phủ phê duyệt Đề án tổng thể chuyển đổi phương pháp tiếp cận nghèo đói ở Việt Nam từ đơn chiều sang đa chiều; mức chuẩn nghèo tiếp cận nghèo đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016-2020.
        Với hiệu quả từ nguồn lực đầu tư của các chính sách, chương trình, dự án về giảm nghèo, tỷ lệ hộ nghèo cả nước đã giảm từ 14,2% cuối năm 2010 xuống còn 5,97% cuối năm 2014 (trong đó các huyện nghèo giảm còn 32,59%); ước cuối năm 2015 tỷ lệ hộ nghèo giảm còn dưới 4,5%, giảm bình quân 2%/năm (các huyện nghèo giảm bình quân 5%/năm, còn khoảng 28%), đạt mục tiêu đề ra. Bộ mặt nông thôn các xã nghèo được cải thiện rõ rệt; người nghèo được hỗ trợ cải thiện một bước về điều kiện sống, tiếp cận tốt hơn các chính sách và nguồn lực hỗ trợ của nhà nước và cộng đồng, đời sống được nâng lên; một số nhu cầu xã hội cơ bản của người nghèo bước đầu được đáp ứng, người nghèo có cơ hội vươn lên, tạo thu nhập để thoát nghèo, ổn định cuộc sống và phát triển.
b) Bảo trợ xã hội:
Trợ cấp thường xuyên cho khoảng 2,643 triệu đối tượng, tăng gần 1,8 lần so với cuối năm 2010 (gồm: 1.454 nghìn  người trên 80 tuổi không có lương hưu; 85 nghìn người cao tuổi cô đơn thuộc hộ nghèo; 896 người khuyết tật nặng và đặc biệt nặng; 45 nghìn trẻ em mồ côi không có nguồn nuôi dưỡng; 113 nghìn người đơn thân nuôi con thuộc hộ nghèo và khoảng 50 nghìn đối tượng khác). Ngân sách trung ương chi trợ cấp xã hội hàng tháng cho đối tượng bảo trợ xã hội tại cộng đồng tăng nhanh, năm 2015 khoảng trên 11,6 nghìn tỷ đồng, tăng gấn gấp 3 lần so với năm 2010.
Tính đến nay cả nước có 408 cơ sở trợ giúp xã hội, nuôi dưỡng, chăm sóc trên 41,4 nghìn đối tượng bảo trợ xã hội (trong đó, số đối tượng người lớn, trẻ em bị khuyết tật, tâm thần chiếm tới 56,5%).
c) Bảo vệ và chăm sóc trẻ em:
Tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện Luật Bảo vệ, chăm sóc trẻ em sửa đổi;  triển khai đồng bộ, hiệu quả các chương trình, dự án về bảo vệ chăm sóc trẻ em; tổ chức thường xuyên hàng năm các hoạt động vì trẻ em trên phạm vi cả nước như: “Tháng hành động vì trẻ em”, “Diễn đàn trẻ em”… được sự hưởng ứng tích cực của các tổ chức, doanh nghiệp và của toàn xã hội, huy động được hàng trăm tỷ đồng mỗi năm ủng hộ cho các hoạt động bảo vệ, chăm sóc trẻ em các cấp.
Trong 5 năm 2011 - 2015, tổng nguồn thu vận động vào Quỹ Bảo trợ trẻ em Việt Nam đạt trên 143 tỷ đồng, đã hỗ trợ cho hàng trăm nghìn trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt với tổng kinh phí hơn 130 tỷ đồng.
        Thực hiện năm 2015 có 85% trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt được trợ giúp dưới các hình thức; giảm tỷ lệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt xuống còn 5,6%; 80% xã, phường, thị trấn đạt tiêu chuẩn phù hợp với trẻ em; 100% trẻ em dưới 6 tuổi được cấp thẻ bảo hiểm y tế để tiếp cận các dịch vụ y tế không phải trả tiền tại cơ sở y tế công lập.             
d) Bình đẳng giới:
Công tác triển khai Luật Bình đẳng giới và thực hiện mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới được đề ra tại Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011 - 2020 đã được triển khai thực hiện đồng bộ, hiệu quả từ Trung ương tới địa phương. Tổ chức, bộ máy, cán bộ quản lý nhà nước về bình đẳng giới và Ban Vì sự tiến bộ phụ nữ các cấp tiếp tục được củng cố, kiện toàn.
Công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về bình đẳng giới được thực hiện đi vào thực chất hơn; công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện chính sách pháp luật về bình đẳng giới được tăng cường. Cấp ủy, chính quyền các cấp đã có sự chuyển biến tích cực trong nhận thức và hành động về thực hiện bình đẳng giới. Bình đẳng giới trong lao động việc làm, giáo dục đào tạo, chăm sóc y tế, lãnh đạo, quản lý ngày càng có những cải thiện đáng kể; bình đẳng giới về quyền, đối xử, cơ hội giữa nam và nữ được đẩy mạnh.
Việc thực hiện bình đẳng giới nói chung và vì sự tiến bộ phụ nữ nói riêng đã có những tiến bộ nhất định, góp phần nâng cao chất lượng công tác bình đẳng giới. Trên hầu hết các lĩnh vực chúng ta đều có đạt được những bước tiến đáng ghi nhận: Tỷ lệ phụ nữ tham gia điều hành, quản lý doanh nghiệp đạt hơn 20%, là tỷ lệ khá cao so với khu vực và thế giới; tỷ lệ biết chữ của nam và nữ trong độ tuổi từ 15 đến 40 ở vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số, vùng đặc biệt khó khăn đạt trên 80%; Việt Nam nằm trong nhóm nước có tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội cao trong khu vực và trên thế giới (đứng thứ 43/143 quốc gia trên thế giới và giữ vị trí thứ 2 trong 8 nước ASEAN có Nghị viện).
  e) Phòng, chống tệ nạn xã hội:
  Kết quả 5 năm 2011 - 2015 đã tổ chức, quản lý, chữa trị cai nghiện cho trên 217 nghìn lượt người; dạy nghề cho trên 52,5 nghìn người; quản lý sau cai nghiện trên 58 nghìn người, trong đó quản lý sau cai tại nơi cư trú trên 43,5 nghìn người (chiếm 73,5%), quản lý sau cai tại Trung tâm quản lý sau cai gần 16 nghìn người (chiếm 26,5%).
Duy trì và xây dựng mới được 3.539/11.157 xã, phường, thị trấn đạt tiêu chuẩn lành mạnh không có tệ nạn ma túy, mại dâm; 9.296 xã, phường, thị trấn không có tệ nạn mại dâm; 2.781 đội công tác xã hội tình nguyện cấp xã tại 39 tỉnh, thành phố với hơn 18.290 tình nguyện viên đã tích cực tham gia vào công tác phòng, chống tệ nạn xã hội tại địa bàn.
Tổ chức tiếp nhận và hỗ trợ trên 2.300 nạn nhân bị mua bán trở về hòa nhập cộng đồng (trong đó, số nạn nhân tự trở về chiếm trên 65%; số nạn nhân được giải cứu chiếm 25% và còn lại là số được trao trả qua kênh ngoại giao).
II. PHƯƠNG HƯỚNG, NHIỆM VỤ GIAI ĐOẠN 5 NĂM 2016 - 2020 VÀ NĂM 2016
1. Chỉ tiêu chủ yếu
a. Chỉ tiêu Quốc hội giao
- Tỷ lệ thất nghiệp thành thị dưới 4%.
- Tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 65% vào năm 2020 (trong đó tỷ lệ lao động qua đào tạo từ 3 tháng trở lên có bằng cấp, chứng chỉ là 25%); năm 2016 là 53% (trong đó tỷ lệ lao động qua đào tạo từ 3 tháng trở lên có bằng cấp, chứng chỉ là 21%).
- Tỷ lệ hộ nghèo cả nước giảm bình quân khoảng 1-1,5%/năm; năm 2016 là 1,3 - 1,5% (riêng các huyện nghèo, xã nghèo giảm 4%).
b. Chỉ tiêu kế hoạch ngành
-  Tạo việc làm, phát triển thị trường lao động:
Giải quyết việc làm cho 7.500 - 8.000 nghìn người, gồm: Tạo việc làm trong nước cho 7.000 - 7.500 nghìn người (trong đó: tạo việc làm tăng thêm cho khoảng 3.500 nghìn lao động); số người đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài theo hợp đồng 500 nghìn người). Năm 2016, giải quyết việc làm cho 1,5-1,6 triệu người lao động, gồm: giải quyết việc làm trong nước 1,4-1,5 triệu người (trong đó tạo việc làm tăng thêm cho khoảng 700 nghìn lao động); xuất khẩu lao động 100 nghìn người. Tỷ lệ mỗi giới được giải quyết việc làm đạt ít nhất 40%.
Tỷ lệ tham gia bảo hiểm xã hội trong lực lượng lao động đạt 50% vào năm 2020, năm 2016 đạt 23 – 25%.
- Giáo dục nghề nghiệp:
Tuyển mới 10.750 nghìn người (trong đó, trình độ trung cấp và cao đẳng là 1.350 nghìn người; trình độ sơ cấp và dạy nghề dưới 3 tháng là 9.400 nghìn người); năm 2016, tuyển mới dạy nghề 2,15 triệu người (trong đó, trình độ trung cấp và cao đẳng là 250 nghìn người; trình độ sơ cấp và dạy nghề dưới 3 tháng là 1.900 nghìn người).
Tốt nghiệp học nghề theo các trình độ đào tạo đạt 9.451 nghìn người (trong đó, trình độ cao đẳng, trung cấp khoảng 991 nghìn người); năm 2016 khoảng 1,887 triệu người (trong đó, trình độ cao đẳng, trung cấp khoảng 187 nghìn người).
-  Chăm sóc người có công: Đến năm 2020 đảm bảo 99% hộ gia đình chính sách người có công có mức sống bằng hoặc cao hơn mức sống trung bình của dân cư nơi cư trú, năm 2016 là 98,5%; phấn đấu 100% xã, phường làm tốt công tác thương binh, liệt sỹ người có công, năm 2016 là 98,5%.
- Bảo trợ xã hội: 100% các đối tượng  bảo trợ xã hội đủ điều kiện được hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng; 85% các đối tượng người khuyết tật được tiếp cận tối thiểu 1 trong các dịch vụ xã hội, năm 2016 khoảng 81%.
- Bảo vệ, chăm sóc trẻ em: Đến năm 2020 có 90% trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt được trợ giúp, năm 2016 khoảng 86%; 85% xã, phường, thị trấn đạt tiêu chuẩn xã phường, thị trấn phù hợp với trẻ em, năm 2016 khoảng 80%.
- Phòng chống tệ nạn xã hội: Tỷ lệ số người nghiện được điều trị so với số người nghiện có hồ sơ quản lý đạt 90% vào năm 2020, năm 2016 là 74%; giảm tỷ lệ điều trị nghiện bắt buộc tại các trung tâm cai nghiện xuống còn 6%, năm 2016 là 17%; số người bán dâm được tiếp cận các dịch vụ hỗ trợ xã hội khoảng 75.000 lượt người (trong đó, hỗ trợ vay vốn, tạo việc làm cho 25.000 lượt người), năm 2016 là 15.000 người (trong đó, hỗ trợ vay vốn, tạo việc làm cho 25.000 lượt người).
2. Tổ chức thực hiện:
2.1. Tập trung xây dựng, triển khai văn kiện Đại hội Đảng XII liên quan đến các lĩnh vực của ngành. Tiếp tục triển khai Chương trình hành động của ngành thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020 và Phương hướng, nhiệm vụ phát triển đất nước 5 năm 2011- 2015; Nghị quyết số 15-NQ/TW ngày 01/6/2012 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI một số vấn đề về chính sách xã hội giai đoạn 2012 - 2020. Ban hành và tổ chức thực hiện Chương trình công tác nhiệm kỳ 2016 - 2021 và Chương trình công tác năm 2016 của ngành, cụ thể hóa các chỉ tiêu, nhiệm vụ, kế hoạch phân công cụ thể cho từng cơ quan, đơn vị thực hiện; trong đó chú trọng nâng cao vai trò, trách nhiệm Thủ trưởng các đơn vị trong tổ chức thực hiện. Tập trung chỉ đạo, điều hành quyết liệt, linh hoạt, hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp trong Kế hoạch phát triển lĩnh vực lao động, người có công và xã hội giai đoạn 5 năm 2016 - 2020.
2.2. Làm tốt công tác dự báo xu hướng phát triển các lĩnh vực lao động, người có công và xã hội; Triển khai xây dựng đồng bộ quy hoạch phát triển ngành, lĩnh vực để làm căn cứ xây dựng kế hoạch bố trí vốn đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng xã hội của ngành.
2.3. Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo và quản lý của các cấp ủy đảng, chính quyền, phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị, tạo sự đồng thuận của toàn xã hội trong việc thực hiện các chương trình, chính sách lĩnh vực lao động - người có công và xã hội. Đổi mới chỉ đạo, điều hành các cấp trong tổ chức thực hiện chỉ tiêu, nhiệm vụ, đảm bảo sâu sát, cụ thể và hiệu quả; đề cao trách nhiệm cá nhân, đặc biệt là trách nhiệm người đứng đầu, trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, công chức, nhất là đạo đức, tinh thần tận tụy với công việc.
2. 4. Ðẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật, nâng cao nhận thức của các cấp, các ngành, đoàn thể và người dân về chính sách, pháp luật về lao động, người có công và xã hội nhằm tạo sự đồng thuận trong xã hội.
2. 5. Theo dõi sát tình hình thực hiện kế hoạch, kịp thời nắm chắc những diễn biến bất lợi để đề xuất các biện pháp xử lý. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, đề xuất các giải pháp cụ thể để đảm bảo thực hiện thắng lợi, toàn diện nhiệm vụ kế hoạch 5 năm 2016 - 2020 lĩnh vực lao động, người có công và xã hội.
2. 6. Tăng cường công tác phối hợp với các Bộ, ngành, địa phương; các cơ quan của Đảng, các cơ quan Nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị trong việc thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển lĩnh vực lao động, người có công và xã hội./.
Xem