Skip Ribbon Commands
Skip to main content
Sign In

Kết quả thực hiện công tác lao động, người có công và xã hội 9 tháng năm 2015

10/09/2015

9 tháng đầu năm 2015, cả nước giải quyết việc làm cho trên 1.219,5 nghìn lao động, đạt 76,1% kế hoạch năm, tăng 3,7% so với cùng kỳ năm 2014. Trong đó: Tạo việc làm trong nước cho khoảng 1.129 nghìn lao động, đạt 74,8% kế hoạch, tăng 3,3% so với cùng kỳ năm trước; xuất khẩu lao động 90,5 nghìn người, đạt 97,8% kế hoạch, tăng 8,6% so với cùng kỳ năm trước.

1. Về lao động - việc làm
a) Tạo việc làm, phát triển thị trường lao động
- 9 tháng đầu năm 2015, cả nước giải quyết việc làm cho trên 1.219,5 nghìn lao động, đạt 76,1% kế hoạch năm, tăng 3,7% so với cùng kỳ năm 2014. Trong đó: Tạo việc làm trong nước cho khoảng 1.129 nghìn lao động, đạt 74,8% kế hoạch, tăng 3,3% so với cùng kỳ năm trước; xuất khẩu lao động 90,5 nghìn người, đạt 97,8% kế hoạch, tăng 8,6% so với cùng kỳ năm trước.
Ước thực hiện năm 2015 cả nước tạo việc làm cho 1.617 nghìn người, đạt 101,1% kế hoạch năm, tăng 1,1% so với thực hiện năm 2014; gồm: (i) Tạo việc làm trong nước cho 1.510 nghìn người, đạt 100% kế hoạch, tăng 1,1% so với năm 2014; (ii) xuất khẩu lao động 107 nghìn người, đạt 118,9% kế hoạch, tăng 0,9% so với năm 2014.
- Lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật quý I/2015 gần 27,4 triệu người, chiếm tỷ lệ 51,25% lực lượng lao động. Ước cuối năm 2015 tỷ lệ lao động có chuyên môn kỹ thuật (lao động qua đào tạo) đạt 51,6%, đạt chỉ tiêu theo Nghị quyết 77/NQ-QH13 (50% cuối năm 2015).
- Tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi 8 tháng đầu năm ước tính là 2,44%, trong đó khu vực thành thị là 3,35%; khu vực nông thôn là 2,00%. Tỷ lệ thiếu việc làm của lao động trong độ tuổi 8 tháng đầu năm 2015 ước tính là 2,52%, trong đó khu vực thành thị là 1,29%; khu vực nông thôn là 3,11%.
b) Thực hiện chính sách tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, an toàn lao động, quan hệ lao động, quản lý lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam.
- Thực hiện đúng quy định mức tiền lương tối thiểu vùng từ 01/01/2015; thu nhập bình quân của người lao động trong các doanh nghiệp quý I/2015 là 4,9 triệu đồng, tăng 0,5 triệu so với so với quý IV/2014.
- Tiếp tục các giải pháp mở rộng đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội, tính đến 30/6 số lao động tham gia bảo hiểm xã hội (BHXH) là 11.878.788 người, chiếm 22,05% lực lượng lao động (trong đó, tham gia BHXH bắt buộc là 11.665.616 người, tăng 214.086 người so với cuối năm 2014; tham gia BHXH tự nguyện là 205.949 người, tăng 16.918 người so với cuối năm 2014).
- Thực hiện tốt chính sách bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động, tính đến 20/8 có 9.924.000 người tham gia bảo hiểm thất nghiệp; số người nộp hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp 8 tháng đầu năm là 353.440 người, giảm 2,2% so với cùng kỳ năm 2014; số người có quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp là 335.199 người, giảm 2,5% so với cùng kỳ năm 2014 (trong đó, có 300.110 người được tư vấn, giới thiệu việc làm làm; 15.697 người được hỗ trợ học nghề).
Tổ chức Tuần lễ Quốc gia về an toàn vệ sinh lao động - phòng chống cháy nổ lần thứ 17 tại tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu và phát động hưởng ứng trong cả nước.
- Tăng cường công tác quản lý lao động người nước ngoài làm việc tại Việt Nam: tổ chức đối thoại với doanh nghiệp, nhà đầu tư, kịp thời giải quyết những vướng mắc theo thẩm quyền, đơn giản hóa các thủ tục hành chính trong quy định về tuyển dụng, cấp phép lao động.
c) Dạy nghề
- 8 tháng đầu năm tuyển mới dạy nghề trên 874 nghìn người, trong đó: Cao đẳng nghề, trung cấp nghề trên 47 nghìn người; sơ cấp nghề và dạy nghề dưới 3 tháng trên 826 nghìn người (trong đó dạy nghề cho lao động nông thôn là 120 nghìn người).
- Tính đến 30/8, cả nước có 1.463 cơ sở dạy nghề, gồm: 190 trường cao đẳng nghề (48 trường ngoài công lập), tăng 67 trường so với cuối năm 2010 (trong đó có 48 trường ngoài công lập); 280 trường trung cấp nghề, giảm 24 trường so với cuối năm 2010 (102 trường ngoài công lập) và 993 trung tâm dạy nghề (340 trung tâm dạy nghề ngoài công lập), tăng 205 trung tâm so với cuối năm 2010.
2. Chăm sóc người có công
- Đảm bảo chi trả đầy đủ, kịp thời trợ cấp ưu đãi thường xuyên cho trên 1,4 triệu người có công; thực hiện đầy đủ các chính sách về chăm sóc sức khỏe, trang cấp, ưu đãi giáo dục và các chính sách ưu đãi khác đối với người có công.
- Phối hợp với Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tổng rà soát thực hiện chính sách ưu đãi đối với người có công với cách mạng với tổng số đối tượng được rà soát là 2.070.842 người. Kết quả: Số đối tượng hưởng đúng, hưởng đủ chính sách là 1.982.769 người (chiếm tỷ lệ 95,75%); số đối tượng hưởng chưa đầy đủ chính sách là 86.201 người (chiếm tỷ lệ 4,16%); số đối tượng hưởng sai chính sách là 1.872 người (chiếm tỷ lệ 0,09%).
- Các phong trào “Đền ơn đáp nghĩa”, “Uống nước nhớ nguồn”, “Xã, phường làm tốt công tác thương binh, liệt sỹ, người có công” được phát triển sâu rộng ở tất cả các địa phương. Ước đến cuối năm 2015 có 98,5% hộ gia đình chính sách người có công có mức sống bằng hoặc cao hơn mức sống trung bình hộ dân cư nơi cư trú.
3. Các lĩnh vực xã hội
a) Về giảm nghèo
- Theo kết quả rà soát, tỷ lệ hộ nghèo cả nước cuối năm 2014 giảm còn 5,97% (giảm 1,83% so với cuối năm 2013), tỷ lệ hộ cận nghèo còn 5,62% (giảm 0,7% so với cuối năm 2013); tỷ lệ hộ nghèo ở 64 huyện nghèo theo Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP giảm còn 32,59% (giảm 5,61% so với cuối năm 2013).
- Ước cuối năm 2015 tỷ lệ hộ nghèo cả nước giảm 1,7-2% so với cuối năm 2014 (còn khoảng 4,27 - 3,97%); tỷ lệ hộ nghèo các huyện nghèo theo Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP giảm 4% (còn dưới 30%), hoàn thành mục tiêu theo Nghị quyết 76/2014/QH13 của Quốc hội.
- Chỉ đạo, hướng dẫn các địa phương triển khai thực hiện hiệu quả các chính sách giảm nghèo; thực hiện các chính sách đặc thù trên địa bàn các huyện nghèo theo Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP ngày 27/12/2008 của Chính phủ; sử dụng kinh phí chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững năm 2015 đảm bảo hiệu quả, đúng mục tiêu.
- Tổ chức sơ kết đánh giá 5 năm thực hiện Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP ngày 27/12/2008 của Chính phủ; triển khai thực hiện Nghị quyết số 76/2014/QH13 về đẩy mạnh thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững đến năm 2020; Trình Chính phủ phê duyệt Đề án tổng thể chuyển đổi phương pháp tiếp cận nghèo đói ở Việt Nam từ đơn chiều sang đa chiều; xây dựng tiêu chí và mức chuẩn nghèo theo phương pháp tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016-2020 trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt để tổ chức tổng điều tra hộ nghèo trong quý IV/2015.
b) Bảo trợ xã hội
- Trợ cấp thường xuyên cho khoảng 2,6 triệu người, trong đó: 63.982 trẻ em bị bỏ rơi, trẻ em mồ côi; 95.635 người cao tuổi cô đơn; 1.410.064 người từ 80 tuổi trở lên; 760.000 người khuyết tật nặng; 190.737 người tâm thần; 117.226 người nghèo đơn thân nuôi con; 15.297 người, gia đình nuôi trẻ em bị bỏ rơi, trẻ mồ côi; 5.465 gia đình có từ 2 người khuyết tật nặng trở lên; 3.459 người nhiễm HIV/AIDS).
- Đến nay cả nước có 402 cơ sở trợ giúp xã hội, nuôi dưỡng, chăm sóc trên 42 nghìn đối tượng bảo trợ xã hội (trong đó số đối tượng người lớn, trẻ em bị khuyết tật, tâm thần chiếm tới 56,5%).
- Tính đến ngày 17/9/2015, trên cơ sở đề nghị của các địa phương, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đã trình Chính phủ hỗ trợ gạo cho 20 tỉnh với tổng số gạo là trên 29,8 nghìn tấn với trên 625 nghìn hộ được hỗ trợ (trên 2.000 nghìn nhân khẩu).
c) Bảo vệ và chăm sóc trẻ em
- Tổ chức Tháng hành động vì trẻ em với chủ đề “Lắng nghe trẻ em nói” (tại tỉnh Hải Dương và phát động trong cả nước); Tháng hành động đã huy động được trên 20 tỷ đồng ủng hộ cho các hoạt động bảo vệ, chăm sóc trẻ em các cấp ủng hộ cho việc triển khai các chương trình, dự án vì trẻ em khuyết tật, trẻ em có hoàn cảnh khó khăn; tại địa phương, theo báo cáo của 27 tỉnh/thành phố vận động được 17,116 tỷ đồng.
Tính đến tháng 8/2015, tổng nguồn thu vận động vào Quỹ Bảo trợ trẻ em Việt Nam là hơn 22,2 tỷ đồng, đã hỗ trợ cho 49.509 trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, khó khăn được hưởng lợi, với tổng kinh phí là hơn 29,4 tỷ đồng.
- Ước thực hiện năm 2015 có 85% trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt được trợ giúp dưới các hình thức; giảm tỷ lệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt xuống còn 5,6%; 80% xã, phường, thị trấn đạt tiêu chuẩn phù hợp với trẻ em; 100% trẻ em dưới 6 tuổi được cấp thẻ bảo hiểm y tế để tiếp cận các dịch vụ y tế không phải trả tiền tại cơ sở y tế công lập.
d) Bình đẳng giới
- Tiếp tục triển khai thực hiện đồng bộ, hiệu quả Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011-2020, Chương trình quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011-2015; xây dựng Đề án phòng, chống bạo lực trên cơ sở giới giai đoạn 2016-2020, tầm nhìn 2030 với nội dung chính tập trung tuyên truyền nâng cao nhận thức, thay đổi hành vi hướng đến phòng, chống bạo lực trên cơ sở giới. 
- Bình đẳng giới trong lao động việc làm, giáo dục - đào tạo chăm sóc y tế, lãnh đạo, quản lý ngày càng có những cải thiện đáng kể; bình đẳng giới thực chất về quyền, đối xử, cơ hội giữa nam và nữ được đẩy mạnh. Nhiều mô hình thực hiện thúc đẩy bình đẳng giới được triển khai, như: Mô hình hỗ trợ phụ nữ tạo việc làm, khởi sự, phát triển doanh nghiệp; mô hình nhà trẻ trong cơ quan, khu công nghiệp, khu chế xuất; mô hình ngăn ngừa, giảm thiểu tác hại của bạo lực trên cơ sở giới; mô hình phòng chống bạo lực gia đình...
e) Về phòng, chống tệ nạn xã hội
- Đến tháng 8/2015, có 13 Trung tâm Chữa bệnh - Giáo dục - Lao động xã hội đã thực hiện chuyển đổi sang các mô hình điều trị khác; thành lập được 35 Điểm tư vấn, chăm sóc, hỗ trợ điều trị nghiện ma túy tại cộng đồng.
- 8 tháng đầu năm cả nước đang tổ chức quản lý, cai nghiện phục hồi cho 32.854 người (đạt 82% kế hoạch);
- Duy trì và xây dựng mới được 3.539/11.157 xã, phường, thị trấn đạt tiêu chuẩn lành mạnh không có tệ nạn ma túy, mại dâm; 9.296 xã, phường, thị trấn không có tệ nạn mại dâm.
 
Xem