Skip Ribbon Commands
Skip to main content
Sign In

Những thách thức và giải pháp để làm tốt chính sách an sinh xã hội giai đoạn 2016 – 2020

14/02/2016

Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc về lĩnh vực an sinh xã hội, giai đoạn 2011-2015, toàn Ngành đã cố gắng, nỗ lực trong tham mưu hoạch định cũng như triển khai thực hiện chính sách về lao động- việc làm, người có công và xã hội. Cùng với hoàn thiện 6 luật, có 3 luật bổ sung, sửa đổi và 2 luật xây dựng mới đã góp phần hoàn thiện các cơ chế, chính sách về các lĩnh vực trên. Nhờ đó, trong 5 năm qua, cả nước đã tạo việc làm cho trên 7,8 triệu người; khoảng 8,6 triệu lao động được đào tạo, tăng gấp 3 lần so với giai đoạn trước, góp phần đưa tỉ lệ lao động qua đào tạo cả nước lên 51,6% vào cuối năm 2015; lần đầu tiên, học sinh Việt Nam đã giành được Huy chương Đồng tại Kỳ thi nghề thế giới lần thứ 43; tỉ lệ hộ nghèo cả nước giảm bình quân khoảng 2% mỗi năm, từ 14,2% (cuối năm 2010) xuống dưới 4,5% (năm 2015). Riêng các huyện nghèo giảm khoảng 6% mỗi năm, từ 58,3% xuống còn 28%. Lĩnh vực người có công được thực hiện tốt hơn nhờ sửa đổi nhiều chính sách theo hướng mở rộng đối tượng, nâng mức trợ cấp (hiện nay, mức chuẩn trợ cấp ưu đãi đã tăng lên 71,2% so với năm 2010).Tổng kinh phí thực hiện chính sách đối với người có công tăng từ 20 ngàn tỷ năm 2011 lên gần 32 ngàn tỷ đồng năm 2015.

Đây cũng là nhiệm kỳ huy động được nhiều nguồn lực, khơi dậy được sự tham gia, đóng góp của cộng đồng chung tay chăm sóc người có công với nhiều hình thức phong phú, đa dạng. Trong 5 năm, cả nước đã huy động trên 1.250 tỷ đồng xây dựng Quỹ đền ơn đáp nghĩa; xây mới khoảng 46 nghìn nhà tình nghĩa, sửa chữa trên 43 nghìn nhà với trên 10,6 nghìn tỷ đồng; gần 11 nghìn Bà mẹ Việt Nam anh hùng còn sống được các cơ quan, đơn vị nhận chăm sóc, phụng dưỡng... Đặc biệt trong hai năm 2014 - 2015, Bộ Lao động-TBXH đã phối hợp Ủy ban TƯ MTTQ Việt Nam đã triển khai Tổng rà soát thực hiện chính sách ưu đãi người có công với cách mạng với kết quả trên 2 triệu người được rà soát. Qua đó, đã kịp thời xem xét, giải quyết những vấn đề còn tồn đọng, giải quyết tồn đọng chính sách cho 10.682 trường hợp.
Có thể nói trong giai đoạn 2011-2015, cùng với sự cố gắng, nỗ lực, toàn ngành đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng trong tham mưu hoạch định chính sách an sinh xã hội, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết của Đại hội Đảng lần thứ XI. Giai đoạn 2016-2020, triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ XII của Đảng trong bối cảnh Việt Nam tham gia Hiệp định đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương (TPP) và hội nhập ASEAN, bên cạnh những thuận lợi, có nhiều khó khăn, thách thức lớn đặt ra đối với Ngành:
Thứ nhất, chất lượng việc làm còn thấp, trong khi khả năng tạo việc làm của nền kinh tế trong giai đoạn suy giảm tăng trưởng kinh tế không cao đã ảnh hưởng đến kết quả giải quyết việc làm cho người lao động.
Nguồn lực hỗ trợ tạo việc làm thấp, chưa đảm bảo để thực hiện các chương trình, dự án hỗ trợ giải quyết việc làm.
Chuyển dịch cơ cấu lao động còn chậm, lao động làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng cao, năm 2015 là 44,3%; chất lượng lao động thấp, tỷ lệ lao động qua đào tạo chung 51,6%, trong đó qua đào tạo từ 3 tháng trở (có bằng cấp chứng chỉ) mới đạt khoảng 21,9%.
Đa số lao động phi chính thức chưa tham gia BHXH tự nguyện và bảo hiểm thất nghiệp.
Thứ hai, chất lượng nguồn nhân lực còn hạn chế, nhân lực qua đào tạo chưa đáp ứng được nhu cầu của trị trường lao động và doanh nghiệp về tay nghề và các kỹ năng mềm khác. Trình độ ngoại ngữ của lao động Việt Nam chưa cao nên gặp nhiều khó khăn trong quá trình hội nhập. Cạnh tranh về nhân lực chất lượng cao sẽ diễn ra mạnh mẽ  trên bình diện thế giới, khu vực và quốc gia. Việc mở ra khả năng di chuyển lao động giữa các nước đòi hỏi ngư­ời lao động phải có kỹ năng nghề cao, có năng lực làm việc trong môi trường quốc tế với những tiêu chuẩn, tiêu chí do thị trường lao động xác định.
Thứ ba, mặc dù chiến tranh đã lùi xa hơn 40 năm nhưng vẫn còn một số người có công chưa được hưởng chính sách ưu đãi của Nhà nước do hồ sơ bị thất lạc, còn nhiều liệt sĩ vẫn chưa tìm được hài cốt hoặc hài cốt đã được quy tập về các nghĩa trang liệt sĩ nhưng chưa có hoặc còn thiếu thông tin…giải quyết các vấn đề đó là việc làm thiêng liêng, là trách nhiệm cao cả của Đảng, Nhà nước, các cấp, các ngành và toàn xã hội.
Thứ tư, giảm nghèo chưa bền vững, nguy cơ tái nghèo cao; tỷ lệ nghèo ở nhiều vùng dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa vùng thường xuyên chịu ảnh hưởng của thiên tai còn cao; chênh lệch giàu - nghèo về thu nhập và tiếp cận các dịch vụ xã hội giữa các vùng, nhóm dân cư có xu hướng gia tăng.
Thứ năm, mức trợ cấp xã hội còn thấp, đời sống đối tượng bảo trợ xã hội còn rất khó khăn; xu hướng già hóa dân số nhanh hơn dự kiến đặt ra những thách thức về chi phí liên quan đến chăm sóc sức khỏe người cao tuổi và chính sách an sinh xã hội. Đến hết năm 2014, cả nước mới có gần 4,415 triệu người từ 55 tuổi trở lên hưởng an sinh tuổi già (gồm 2,2 triệu người hưởng chế độ hưu trí, 1,6 triệu người già trên 80 tuổi và 670 ngàn người cao tuổi thuộc hộ nghèo được hưởng trợ cấp tuổi già), chiếm 32,74% dân số trên độ tuổi lao động.

Bộ trưởng Phạm Thị Hải Chuyền phát biểu tại Hội nghị trực tuyến đánh giá thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ 5 năm (2011 – 2015), phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ 5 năm (2016 – 2020) lĩnh vực lao động, người có công và xã hội 
Bên cạnh đó, nhận thức về vai trò của an sinh xã hội ở không ít cấp uỷ, chính quyền, cán bộ, đảng viên, tổ chức, doanh nghiệp và người dân chưa đúng và chưa đầy đủ, còn coi an sinh xã hội là trách nhiệm riêng của Nhà nước, tư tưởng trông chờ vào Nhà nước, vào Trung ương còn nặng nề; Công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách, luật pháp, thanh kiểm tra việc thực hiện an sinh xã hội chưa được quan tâm đúng mức; các chính sách được ban hành ở nhiều giai đoạn khác nhau, áp dụng cho nhiều nhóm đối tượng khác nhau nên thiếu tính hệ thống, gây khó khăn cho việc áp dụng chính sách, quản lý đối tượng.
Năm 2016 là năm đầu thực hiện Nghị quyết Đại hội XII của Đảng, để tiếp tục hoàn thiện hệ thống chính sách an sinh xã hội phù hợp với quá trình phát triển kinh tế trong giai đoạn tới, cần tập trung thực hiện Nghị quyết số 15-NQ/TW ngày 1/6/2012 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (Khóa XI) “Một số vấn đề về chính sách xã hội giai đoạn 2012-2020”. Quán triệt, nâng cao nhận thức, trách nhiệm trong xây dựng và thực hiện chính sách xã hội, coi các chính sách xã hội là nhiệm vụ chính trị thường xuyên, lâu dài, liên tục từ đó chủ động đề ra các giải pháp phù hợp nhằm mục tiêu đảm bảo tốt an sinh xã hội, chăm lo cải thiện và không ngừng nâng cao đời sống cho người dân. Cụ thể là:
1. Ngay tháng 2 năm 2016 – năm đầu nhiệm kỳ, cần xây dựng, ban hành và triển khai thực hiện Chương trình công tác cụ thể của đơn vị, địa phương; trong đó, xác định rõ mục tiêu, nhiệm vụ, thời gian và phân công từng bộ phận, cá nhân chủ trì để triển khai thực hiện. Tập trung chỉ đạo, điều hành quyết liệt, linh hoạt, hiệu quả các giải pháp trong chương trình; thường xuyên kiểm tra, giám sát tiến độ và kết quả thực hiện chương trình công tác đã đề ra; tổ chức giao ban hàng tháng để kiểm điểm tình hình thực hiện chương trình, chủ động xử lý hoặc đề xuất cấp có thẩm quyền giải pháp xử lý phù hợp, kịp thời những vấn đề mới phát sinh;  phối hợp với các Bộ, ngành, địa phương; các cơ quan của Đảng, các cơ quan Nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị trong việc thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển lĩnh vực lao động, người có công và xã hội.
2. Đổi mới quyết liệt lĩnh vực đào tạo nghề, mở rộng quy mô, tạo mọi cơ hội thuận lợi cho người lao động và thanh niên tiếp cận với các dịch vụ dạy nghề; nâng cao chất lượng đào tạo nghề đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thị trường lao động và hội nhập kinh tế quốc tế; nâng cao năng lực quản lý của hệ thống dạy nghề. Đổi mới và phát triển đào tạo nghề phải tiếp cận với những xu hướng đổi mới trong nền kinh tế thị trường, hội nhập kinh tế quốc tế, đồng thời phải dựa trên cơ sở ổn định lâu dài, kế thừa, phát huy những kết qủa đào tạo nghề, phát triển bền vững trong thời gian tới.
3. Thực hiện đầy đủ chế độ, chính sách đã ban hành cho đối tượng người có công. Tiếp tục nghiên cứu, sửa đổi một số chính sách chưa hợp lý. Có giải pháp cụ thể để xử lý các trường hợp còn tồn đọng về xác nhận, công nhận người có công và những trường hợp hưởng thiếu chính sách. Huy động mọi nguồn lực trong xã hội, cộng đồng cùng Nhà nước chăm sóc tốt hơn đời sống vật chất, tinh thần của người có công.
4. Sắp xếp lại các cơ sở bảo trợ xã hội theo hướng mở rộng xã hội hóa, động viên mọi nguồn lực xã hội chăm sóc người khuyết tật, người yếu thế. Thực hiện đầy đủ các chính sách trợ giúp đã ban hành; từng bước mở rộng đối tượng thụ hưởng chính sách trợ giúp xã hội, nâng dần mức trợ cấp xã hội thường xuyên và mức nuôi dưỡng tập trung tại các cơ sở bảo trợ xã hội phù hợp với khả năng ngân sách nhà nước. Thực hiện tốt công tác hỗ trợ đột xuất, bảo đảm người dân bị thiệt hại khi gặp rủi ro, thiên tai được hỗ trợ kịp thời.
5. Tích cực và chủ động khai thác các nguồn lực xã hội, nguồn lực quốc tế; xây dựng cơ chế khuyến khích và huy động các tổ chức, doanh nghiệp tham gia chăm sóc người có công, người nghèo, các đối tượng yếu thế
6. Tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính, nhất là thủ tục hành chính.  Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý nhà nước.
7. Tăng cường và mở rộng hoạt động hợp tác và hội nhập quốc tế, nhất là hợp tác về dạy nghề, phát triển thị trường lao động, an sinh xã hội… nhằm thu hút nguồn lực, kinh nghiệm quốc tế cho phát triển các lĩnh vực của ngành…
8. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức của các cấp ủy đảng, chính quyền, cán bộ và người dân hiểu rõ chủ trương của Đảng và Nhà nước về các chính sách an sinh xã hội.
9. Phát động phong trào thi đua yêu nước trong toàn ngành, phấn đấu hoàn thành vượt mức chỉ tiêu, nhiệm vụ trong từng cơ quan, đơn vị và toàn ngành.
Năm 2016 là năm đầu tiên thực hiện Nghị quyết Đại hội XII của Đảng về phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2016 - 2020. Việc thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ đề ra có ý nghĩa to lớn, tạo đà cho các năm tiếp theo để hoàn thành mục tiêu kế hoạch 5 năm. Do đó, toàn ngành cần phải nỗ lực phấn đấu, kiên trì các mục tiêu; thực hiện đồng bộ, hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp đã đề ra trong Kế hoạch 5 năm 2016 - 2020 cũng như Kế hoạch năm 2016 của ngành./. 
Phạm Thị Hải Chuyền
 Bộ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội
Xem