Skip Ribbon Commands
Skip to main content
Sign In

Ngành LĐTBXH thực hiện đồng bộ, linh hoạt, hiệu quả các giải pháp phòng, chống dịch COVID-19, đảm bảo an sinh xã hội

12/01/2022

Năm 2021, Ngành LĐTBXH đã tổ chức thực hiện đồng bộ, linh hoạt, hiệu quả các giải pháp phòng, chống dịch COVID-19 với mục tiêu hàng đầu là chăm lo, bảo vệ sức khỏe và sinh mệnh của người dân, bảo đảm thực hiện tốt sự bao phủ của các chính sách an sinh xã hội, phúc lợi xã hội hiện hành tới tất các các đối tượng, người dân trong xã hội để duy trì sự ổn định trong đời sống kinh tế - xã hội. 

b7405e5ac2590f075648.jpg

Nhằm đánh giá những kết quả đạt được của năm 2021 và triển khai nhiệm vụ năm 2022, chiều ngày 12/01, Bộ LĐTBXH tổ chức Hội nghị trực tuyến triển khai nhiệm vụ lao động, người có công và xã hội năm 2022. Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam Đến dự và phát biểu chỉ đạo Hội nghị tại điểm cầu Trung ương. Tham dự Hội nghị còn có Bí thư Đảng ủy Khối các Cơ quan Trung ương Huỳnh Tấn Việt; Chủ tịch Hội đồng Dân tộc của Quốc hội Y Thanh Hà Niê K’đăm; Trưởng Ban Dân nguyện thuộc Ủy ban Thường vụ Quốc hội Dương Thanh Bình; Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa, Giáo dục của Quốc hội Nguyễn Đắc Vinh; Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông Nguyễn Mạnh Hùng; Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Nguyễn Kim Sơn cùng đại diện các cơ quan Đảng, Chính phủ, Quốc hội, bộ, ngành…

Về phía Bộ LĐTBXH có: Bộ trưởng Đào Ngọc Dung, cùng các Thứ trưởng: Lê Tấn Dũng, Lê Văn Thanh, Nguyễn Thị Hà, Nguyễn Bá Hoan. Tại 63 điểm cầu địa phương có các đồng chí lãnh đạo UBND các tỉnh, thành phố, Sở LĐTBXH, phòng LĐTBXH các địa phương.

Thực hiện “mục tiêu kép”, đảm bảo an sinh xã hội
Tổ chức thực hiện nghiêm chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ về thực hiện “mục tiêu kép” với ưu tiên hàng đầu là chăm lo, bảo vệ sức khỏe và sinh mệnh người dân; cố gắng cao nhất bảo đảm các hoạt động sản xuất, kinh doanh không để đứt gãy, Bộ LĐTBXH đã triển khai nhiều biện pháp để bảo đảm an sinh xã hội, hỗ trợ người lao động, người dân gặp khó khăn, phục hồi thị trường lao động, giải quyết việc làm.
Đại dịch COVID-19 diễn biến phức tạp đã làm xuất hiện và gia tăng các nhóm yếu thế, dễ bị tổn thương, cần được trợ giúp mà hệ thống ASXH hiện hành chưa bao phủ tới. Trong bối cảnh đó, Bộ LĐTBXH đã chủ động phối hợp với các bộ, ngành liên quan trình Chính phủ ban hành các chính sách hỗ trợ nhằm đảm bảo an sinh xã hội, có chính sách chưa có tiền lệ để hỗ trợ người dân vượt qua khó khăn trong đại dịch như Nghị quyết số 68, Nghị quyết số 116 và Nghị quyết số 126. Đây là các quyết sách quan trọng, kịp thời bổ sung và gia tăng năng lực hoạt động cho hệ thống ASXH ứng phó hiệu quả hơn trong đại dịch.
ảnh-2.jpg
Bộ trưởng Đào Ngọc Dung phát biểu khai mạc Hội nghị
Theo báo cáo, tổng kinh phí thực hiện Nghị quyết 68/NQ-CP toàn quốc là trên 35,9 nghìn tỷ đồng, hỗ trợ trên 31,28 triệu lượt đối tượng. Triển khai Nghị quyết số 116/NQ-CP, đến nay đã giải quyết hưởng hỗ trợ cho trên 12,8 triệu lao động với số tiền hỗ trợ trên 30,5 nghìn tỷ đồng. Ngoài ra, Chính phủ còn xuất cấp gạo cứu đói cho người dân, huy động nguồn lực xã hội hóa to lớn của các tổ chức, cá nhân, cùng hàng triệu “túi an sinh” để hỗ trợ người dân trong dịch bệnh. Trong điều kiện ngân sách còn khó khăn, Chính phủ đã dành nguồn kinh phí không nhỏ để hỗ trợ cho người dân và doanh nghiệp bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19; các chính sách hỗ trợ thực sự thiết thực, kịp thời, ý nghĩa và tạo được niềm tin sâu rộng trong Nhân dân.
Thực hiện kịp thời các giải pháp, chính sách về lao động - việc làm, hỗ trợ phát triển thị trường lao động, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực
Thực hiện Chương trình công tác của Chính phủ, trong năm 2021, Bộ LĐTBXH xây dựng, trình 44 Đề án, gồm bao gồm 01 đề án trình Ban Bí thư, 01 hồ sơ đề nghị xây dựng luật, 42 đề án trong Chương trình công tác của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; ban hành 25 thông tư.
Trong bối cảnh sự bùng phát của dịch COVID-19 đã ảnh hưởng tiêu cực đến thị trường lao động, lao động không có việc làm và thất nghiệp tăng, thu nhập của người lao động giảm, Bộ LĐTBXH đã ban hành Chương trình phục hồi và phát triển thị trường lao động với  hàng loạt giải pháp nhằm thu hút lao động ngoại tỉnh quay lại thành phố làm việc; tập trung chỉ đạo, triển khai thực hiện Chương trình hỗ trợ phát triển thị trường lao động đến năm 2030; chỉ đạo các địa phương theo dõi chặt chẽ, nắm tình hình lao động, nhất là trong các khu công nghiệp, để kịp thời có phương án hỗ trợ doanh nghiệp khắc phục tình trạng thiếu hụt lao động; tăng cường thực hiện các hoạt động tư vấn, giới thiệu việc làm, tổ chức các sàn giao dịch việc làm trực tuyến; chỉ đạo thực hiện chính sách cho vay vốn hỗ trợ tạo việc làm từ Quỹ quốc gia về việc làm.
Các địa phương cũng đã chủ động thực hiện linh hoạt các phương thức sản xuất “3 tại chỗ”, “1 cung đường, 2 điểm đến”; có giải pháp để duy trì lực lượng lao động, bảo đảm sức khỏe, an toàn và đời sống cho người lao động, nhất là trong các khu công nghiệp tập trung, không để đứt gãy chuỗi cung ứng nguồn lao động cho sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp; hỗ trợ việc làm cho lao động từ vùng dịch trở về địa phương... Tuy nhiên, tính chung cả năm 2021 thị trường lao động vẫn còn gặp nhiều khó khăn, với tỷ lệ thất nghiệp năm nay cao hơn năm trước, trong đó: tỷ lệ thất nghiệp lao động trong độ tuổi khu vực thành thị ở mức cao là 4,42%;tỷ lệ thiếu việc làm của lao động trong độ tuổi ở khu vực thành thị là 3,33%.
ảnh-1.jpg
Toàn cảnh Hội nghị 
Công tác đưa lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài cũng bị ảnh hưởng của dịch COVID-19 do nhiều quốc gia đóng cửa, thực hiện giãn cách xã hội và không tiếp nhận lao động. Ước thực hiện cả năm đưa khoảng 45 nghìn lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.
Công tác tuyển sinh, đào tạo, đăng ký hoạt động GDNN theo hướng mở, linh hoạt; ứng dụng mạnh mẽ công nghệ thông tin, tổ chức đào tạo trực tuyến trong bối cảnh dịch bệnh COVID-19 phức tạp, qua đó góp phần tăng tỷ lệ lao động qua đào tạo; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nhân lực có kỹ năng nghề. Ước thực hiện cả năm tuyển mới giáo dục nghề nghiệp khoảng 1.896 nghìn người, đạt khoảng 80% kế hoạch, qua đó góp phần nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 66%; trong đó tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng, chứng chỉ đạt 26,1%.
Bên cạnh đó, tổ chức thực hiện hiệu quả chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, tiền lương; xây dựng quan hệ lao động hài hòa, tiến bộ; an toàn, vệ sinh lao động và quản lý lao động nước ngoài tại Việt Nam. Công tác phát triển đối tượng tham gia BHXH, BHTN được quan tâm trong bối cảnh dịch bệnh, ước tính số người tham gia bảo hiểm xã hội khoảng 16,578 triệu người, chiếm trên 36% lực lượng lao động trong độ tuổi, trong đó số người tham gia BHXH tự nguyện chiếm 2,97% lực lượng lao động trong độ tuổi (vượt chỉ tiêu so với mục tiêu Trung ương giao tại Nghị quyết số 28-NQ/TW gần 2%); số người tham gia bảo hiểm thất nghiệp khoảng 13,537 triệu người, chiếm trên 30% lực lượng lao động trong độ tuổi.
Chú trọng thực hiện chính sách ưu đãi người có công với cách mạng, bảo đảm an sinh xã hội
Triển khai thực hiện Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng, tập trung lập quy hoạch hệ thống cơ sở xã hội nuôi dưỡng, điều dưỡng người có công với cách mạng thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050. Tổ chức thực hiện các chế độ, chính sách ưu đãi đối với người có công và thân nhân người có công với cách mạng đầy đủ, kịp thời, đúng đối tượng. Đẩy mạnh các hoạt động đền ơn đáp nghĩa, huy động nguồn lực xã hội chăm lo đời sống người có công với cách mạng. Đời sống người có công và thân nhân người có công không ngừng được cải thiện, nâng cao hơn.
24527021ec22217c7833.jpg
Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa, Giáo dục của Quốc hội Nguyễn Đắc Vinh phát biểu tại Hội nghị
 Trình Ban Bí thư ban hành Chỉ thị số 05-CT/TW ngày 23/6/2021 về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác giảm nghèo bền vững đến năm 2030; tập trung xây dựng Báo cáo khả thi Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021-2025; tổ chức thực hiện các chính sách giảm nghèo; tổng rà soát hộ nghèo theo chuẩn nghèo đa chiều để áp dụng từ năm 2022. Cuối năm 2021, tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều giảm 0,52% so với cuối năm 2020; tỷ lệ hộ cận nghèo giảm 0,34%; tỷ lệ hộ nghèo ở các huyện nghèo giảm khoảng 4%.
Tiếp tục triển khai các chương trình, đề án, chính sách trợ giúp xã hội; nhất là chính sách hỗ trợ, chăm lo đời sống người cao tuổi, người khuyết tật; trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt năm 2021. Triển khai Nghị định số 20/2021/NĐ-CP của Chính phủ, trong năm đã giải quyết trợ cấp xã hội hàng tháng cho trên 3,5 triệu đối tượng với tổng kinh phí ước tính trên 21 nghìn tỷ đồng. Tập trung xây dựng quy hoạch mạng lưới cơ sở trợ giúp xã hội thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050. Thực hiện tốt công tác trợ giúp đột xuất. Nhìn chung, chính sách trợ giúp xã hội đã bao phủ hầu hết các nhóm đối tượng ở mọi lứa tuổi, 100% đối tượng bảo trợ xã hội đủ điều kiện được hưởng trợ cấp xã hội thường xuyên hàng tháng86% tỷ lệ người cao tuổi có hoàn cảnh khó khăn được trợ giúp xã hội, phụng dưỡng, chăm sóc kịp thời86% tỷ lệ người khuyết tật có hoàn cảnh khó khăn được trợ giúp xã hội, chăm sóc và phục hồi chức năng kịp thời.
Triển khai thực hiện Chương trình hành động quốc gia vì trẻ em giai đoạn 2021-2030; xây dựng môi trường sống an toàn để trẻ em được phát triển toàn diện; kịp thời phối hợp, chỉ đạo, triển khai việc ứng phó, giảm thiểu tác động đại dịch COVID-19 đến trẻ em. Chủ động, tích cực hướng dẫn, phối hợp triển khai các biện pháp giải quyết các vấn đề, vụ việc về bạo lực trẻ em,  xâm hại tình dục trẻ em; phòng, chống tai nạn thương tích ở trẻ em. Tỷ lệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt trên tổng dân số trẻ em giảm xuống còn 6,9%; duy trì 55% xã, phường, thị trấn đạt tiêu chuẩn xã, phường, thị trấn phù hợp với trẻ em.
Triển khai thực hiện Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2021-2030, Chương trình Truyền thông về bình đẳng giới đến năm 2030; tổ chức Tháng hành động vì bình đẳng giới và phòng ngừa, ứng phó với bạo lực trên cơ sở giới năm 2021. Tăng cường và nâng cao trách nhiệm quản lý nhà nước về bình đẳng giới và phòng, ngừa, ứng phó với bạo lực trên cơ sở giới. Chỉ số giới của Việt Nam nằm trong các quốc gia thuộc nhóm cao nhất trong 5 nhóm trên thế giới; vai trò và địa vị của phụ nữ được cải thiện, nâng lên rõ rệt.
Đẩy mạnh công tác tư vấn, điều trị, cai nghiện ma túy cho người nghiện, trong năm các cơ sở cai nghiện ma túy trên cả nước đã điều trị. Trong năm đã tổ chức tư vấn, điều trị, cai nghiện ma túy cho trên 170 nghìn người nghiện ma túy, ước đạt 65% số người nghiện có hồ sơ quản lý; tỷ trọng người nghiện ma túy tham gia cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng, cơ sở cai nghiện ma túy trong tổng số người nghiện được cai nghiện đạt 35,6. Bảo đảm 100% các trường hợp nạn nhân bị buôn bán đã tiếp nhận được tiến hành các thủ tục xác minh, xác định nạn nhân và được hưởng các chế độ hỗ trợ theo quy định của pháp luật.
IMG-0651.JPG
Hội nghị tổ chức theo hình thức trực tuyến tại 63 điểm cầu
Phát biểu tại Hội nghị, Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa, Giáo dục của Quốc hội Nguyễn Đắc Vinh đánh giá cao những kết quả toàn ngành LĐTBXH đạt được trong năm qua – một năm vô cùng khó khăn đối với đất nước và đặt ra nhiều thách thức đối với ngành. Trong bối cảnh dịch bệnh, ngành đã vào cuộc rất sớm và đã tham mưu cho Chính phủ, Đảng kịp thời ban hành nhiều chủ trương, chính sách để hỗ trợ cho người dân và doanh nghiệp. Cùng với đó, ngành cũng đã thực hiện công việc chuyên môn rất toàn diện, nghiêm túc, đầy đủ. Ông Nguyễn Đắc Vinh cũng nhấn mạnh, trong năm qua, ngành LĐTBXH đã giải quyết rất nhiều vấn đề liên quan đến trẻ em trong bối cảnh đại dịch, nhất là trẻ mồ côi, không chỉ chính sách ngắn hạn mà còn cả chiến lược lâu dài.
Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông Nguyễn Mạnh Hùng cho biết, trong năm qua, ngành LĐTBXH đã có những đóng góp quan trọng giúp cho an sinh xã hội cơ bản được đảm bảo, góp phần đưa đất nước ổn định và phát triển. Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng nhấn mạnh, chuyển đổi số là cách tiếp cận đúng đắn mà lãnh đạo Bộ LĐTBXH đang hướng tới và sẽ triển khai quyết liệt trong năm nay. Bộ Thông tin và Truyền thông có thể tư vấn cho Bộ LĐTBXH về Nghị quyết và chương trình chuyển đổi số của ngành. Lĩnh vực nào càng liên quan đến nhiều người dân thì công nghệ số càng phát huy tác dụng, hiệu quả trong quản lý, thực thi chính sách nhanh và chính xác. Công nghệ số sẽ giúp ngành LĐTBXH hoạt động hiệu quả hơn và cũng giúp các ngành khác hoạt động hiệu quả hơn.
Xem