Skip Ribbon Commands
Skip to main content
Sign In

BÁO ĐIỆN TỬ: Về Yên Bái xem bà con học cách thoát nghèo

08/10/2019

Muốn bà con thoát nghèo thì phải trao cho họ “cần câu”, hạn chế “cho không” và khuyến khích “cho vay” để bà con nhận thức được rằng chính bản thân họ phải tự thay đổi cuộc sống của mình; bà con phải là chủ thể trong thực hiện chính sách giảm nghèo của Đảng và Nhà nước. Đó là phương châm mà lãnh đạo tỉnh Yên Bái quán triệt trong thực hiện các chương trình giảm nghèo đối với bà con các dân tộc trên địa bàn.

Yên Bái là tỉnh miền núi có 81 xã và 177 thôn, bản đặc biệt khó khăn ở các xã thuộc khu vực II được hưởng chính sách đầu tư từ Chương trình 135 của Nhà nước. Toàn tỉnh hiện có 30 dân tộc anh em cùng chung sống, trong đó đồng bào dân tộc thiểu số chiếm gần 55,5%, đời sống người dân chủ yếu sống dựa vào sản xuất nông, lâm nghiệp, trình độ phát triển kinh tế - xã hội không đồng đều giữa các dân tộc, tỷ lệ hộ nghèo còn cao.

Những năm qua, Đảng bộ, chính quyền tỉnh Yên Bái đặc biệt quan tâm tới công tác xóa đói, giảm nghèo đối với vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số bằng nhiều giải pháp đồng bộ, quyết liệt với những mô hình hay và đã đem lại hiệu quả rõ nét.
Tạp chí Lao động và Xã hội giới thiệu loạt 02 bài về kinh nghiệm giảm nghèo của tỉnh Yên Bái.
Bài 1: Rủ nhau đi học nghề để thoát nghèo
Đi học để quyết thay đổi cuộc sống
Vào một chiều hè, chúng tôi có dịp tới thăm lớp đào tạo nghề xây dựng cho lao động nông thôn ở xã Khao Mang, huyện Mù Cang Chải, do Trung tâm dạy nghề và giáo dục thường xuyên huyện Mù Cang Chải tổ chức. Dù thực hành ngoài trời dưới cái nắng oi bức, nhưng tinh thần học tập của 30 học viên rất hăng say, hồ hởi. Những học viên này 100% là nam giới người dân tộc thiểu số thuộc diện hộ nghèo, hộ cận nghèo ở địa phương, trẻ có, già có, với tinh thần học để biết, trước mắt phục vụ gia đình, khi tay nghề vững thì tham gia đội xây dựng thi công các công trình nhà ở, chuồng trại cho những người có nhu cầu.
Bà con phấn khởi khi theo học nghề xây dựng ở Mù Cang Chải
Mồ hôi nhễ nhại, nhưng đôi bàn tay vẫn nhịp nhàng xúc vữa và thả quả dọi ngay ngắn, anh Lò Văn Phính, một thành viên cho biết, vợ chồng anh có 2 con nhỏ, canh tác một sào ruộng nên gia đình anh vẫn thuộc diện hộ nghèo. Được cán bộ xã đến động viên, nói rằng tại sao có sức khỏe, còn trẻ mà gia đình mãi chẳng khấm khá và phải tìm một nghề gì đó kiếm sống nuôi gia đình chứ? Vì thế anh quyết định đi học nghề để thay đổi cuộc sống.
Hiện tại, ngoài thời gian nông nhàn, anh theo tổ thợ xây đi làm để kiếm thêm đồng ra đồng vào. “Khi được học bài bản, mình rất hứng thú bởi có những thứ chỉ làm theo thói quen, không đúng bài bản nên chất lượng không đảm bảo. Sau lớp học này, mình sẽ được cấp chứng chỉ và phấn đấu làm thợ cả, hy vọng nhận được nhiều công trình hơn, từ đó đời sống gia đình sẽ đỡ vất vả hơn” – anh Lò Văn Phính hồ hởi nói. Anh Phính chia sẻ thêm: “Thấy anh em đi học để có nghề nghiệp ổn định lâu dài, bà con trong bản rất vui. Nhiều anh em cũng dò hỏi để theo học, các chị em cũng muốn đi học những nghề phù hợp để về làm ăn, chứ dăm ba sào ngô không thể giàu được”.   
Kỹ sư Nguyễn Đại Việt, là giáo viên Trường Cao đẳng nghề Yên Bái được tăng cường lên đây, cho biết: “Học viên ở đây rất ham học hỏi. Anh em hầu hết là người xung quanh xã Khao Mang, xa nhất là 6 – 7km. Bà con rất khéo tay và hào hứng khi được tiếp cận những điều mới mẻ, cho dù trước đây đã từng làm. Lúc ở nhà có thể cũng biết trộn vôi vữa, xây chuồng gà, bể nước cho gia đình, nhưng khi theo học bài bản hơn, các học viên rất hứng thú. Chỉ vài ba buổi, những đường trát đã phẳng phiu, gạch xếp thẳng hàng. Có bạn còn đòi thầy phải dạy nhiều hơn nữa để có thể kiếm sống, nuôi gia đình được bằng nghề này”.
Thu hoạch ong cho năng suất cao ở Nậm Khắt
Còn tại xã Nậm Khắt - huyện Mù Cang Chải, nhiều hộ gia đình đã vươn lên thoát nghèo từ nghề nuôi ong rừng lấy mật. Anh Thào Văn Giang là một điển hình như thế. Anh kể: “Năm 2012 đi bộ đội về, tôi thấy bà con vẫn luẩn quẩn nuôi mấy con gà, trồng ít rau nên cái đói cái nghèo vẫn đeo đẳng mãi. Tôi nhận thấy đồi rừng có thể phát triển nghề nuôi ong thương phẩm rất có giá trị, nhưng nhiều người vẫn nuôi nhỏ lẻ, không năng suất. Tôi xác định muốn nuôi được hiệu quả thì phải có kiến thức và vốn, vì thế tôi đã xuống Trung tâm dạy nghề và giáo dục thường xuyên huyện để xin ý kiến các thầy. Được các thầy ủng hộ, tôi kêu gọi thêm anh em trong xã cùng học, sau đó góp vốn nuôi ong. Đến nay chúng tôi đã phát triển hàng trăm tổ, cho thu nhập khá. Do nuôi có khoa học nên ong không bị chết hay bỏ đi như trước”.
Ông Thào A Pháo – Phó Chủ tịch UBND xã Nậm Khắt cũng chia sẻ: “Cách đây 6 - 7  năm, ong nuôi của bàn con ở xã Nậm Khắt chết hàng loạt do rét, do bà con không biết ủ ấm cho ong. Sau khi học lớp nuôi ong, người dân đã biết cách chăm sóc, ong không bị chết và bỏ đi. Nghề nuôi ong ở xã này cực kỳ hiệu quả, đầu ra rất đắt hàng, nhiều hộ nuôi thành thương hiệu và sản phẩm được thu mua ngay trong rừng. Trước đây chỉ có thanh niên đi học nghề nuôi ong, giờ các lớp mở ra đã thu hút cả những người 50, 60 tuổi”.
Thầy giáo “xuống bản” giúp dân thoát nghèo
Bà Lương Thị Xuyến, Phó Chủ tịch UBND huyện Mù Cang Chải cho rằng, bà con địa phương vốn còn nhiều tự ti, trình độ dân trí thấp nên hạn chế trong tiếp cận khoa học kỹ thuật. Tuy nhiên, họ cũng rất khéo tay, chăm chỉ, khỏe mạnh, quan trọng là phải thay đổi nhận thức của bà con để họ vươn lên thoát nghèo. Do đó, vấn đề quan trọng là bằng cách này hay cách khác “lôi kéo” bà con đi học để về áp dụng vào sản xuất, không thể phát triển kiểu tự phát mãi được. Công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn được Mù Cang Chải xác định là một trong những nhiệm vụ trọng tâm, nhằm chuyển dịch cơ cấu kinh tế, giúp bà con các dân tộc nâng cao thu nhập, giảm nghèo bền vững.
Anh Và A Chư ở thị trấn Mù Cang Chải thoát nghèo nhờ vay vốn mở cửa hàng nông cụ
Ông Vũ Xuân Hải – Phó Giám đốc Trung tâm dạy nghề và giáo dục thường xuyên huyện Mù Cang Chải cho biết: Là huyện có địa bàn rộng, điều kiện đi lại hết sức khó khăn, xã xa nhất trung tâm huyện (xã Chế Tạo) tới 50km, nên nếu tổ chức lớp học tại trung tâm huyện thì sẽ không thuận lợi cho bà con, dù họ rất thích đi học. Nhận thức được điều này, từ năm 2014, Trung tâm đã có hướng chuyển đổi trong phương thức, mô hình đào tạo.
Theo đó, thay vì “trò tìm đến thầy” để học thì thầy phải bố trí về bản để phối hợp cùng chính quyền địa phương kêu gọi, tổ chức các lớp học nghề cho bà con. Có thể tùy theo địa hình bố trí 2 đến 3 bản một lớp. Với mô hình 100% đào tạo tại chỗ, bà con vừa tận dụng được thời gian làm việc nhà, việc đồng áng, lại vừa theo học được đầy đủ. Giáo viên “xuống bản” có trách nhiệm “cầm tay chỉ việc” cho bà con, dạy trực quan dễ hiểu, dễ vận dụng, bởi nếu học lý thuyết bà sẽ rất khó tiếp thu do nhiều người không thạo tiếng Kinh.
Anh Lò Văn Phính có vợ theo học nghề chăn nuôi vui vẻ nói: “Có học có hơn chứ. Bà con trước trồng lúa theo kinh nghiệm, giờ có thêm khoa học nữa thì năng suất sẽ cao hơn; nuôi con gà, con lợn cũng không bị bệnh hay chết nhiều như trước. Cậu em vợ tôi học nghề cơ khí, xong về mở xưởng sữa chữa máy móc cho bà con. Giờ gia đình nó đỡ khổ rồi, nên ai cũng nhìn vào học tập để làm ăn”.
Tại huyện Mù Cang Chải, đến nay đã có trên 3.000 lao động nông thôn được đào tạo nghề với nghề nông nghiệp (10 ngành nghề), phi nông nghiệp (11 ngành nghề). Hầu hết trong số này là lao động thuộc nhóm dân tộc thiểu số, hộ nghèo, hộ cận nghèo. Theo đánh giá của UBND huyện, tỷ lệ lao động nông thôn sau khi học nghề có việc làm mới hoặc tiếp tục làm nghề cũ nhưng với năng suất, thu nhập cao hơn trước là hơn 2.400 người, đạt 85,8%. Số hộ gia đình có người tham gia học nghề được thoát nghèo sau 1 năm học nghề là 40 người; hộ gia đình sau học nghề trở thành hộ khá là 110 hộ; lao động nông thôn chuyển từ nông nghiệp sang phi nông nghiệp sau học nghề là 2 người.
Có 4 lớp mô hình điển hình với 119 học viên, sau khi học nghề xong biết cách áp dụng các kiến thức khoa học, kỹ thuật vào sản xuất cây trồng, vật nuôi, ý thức được các sản phẩm làm ra không chỉ phục vụ cho gia đình tự cung, tự cấp mà còn hướng ra thị trường để giải quyết việc làm có thu nhập cao. Có 10 cá nhân điển hình đã tự mở xưởng, hiệu sửa chữa làm dịch vụ cũng như tạo ra các sản phẩm hàng hóa bán trên thị trường…
Có thể khẳng định, nhận thức về tự vươn lên thoát nghèo của bà con tại Mù Cang Chải nói riêng, Yên Bái nói chung đã có sự thay đổi rõ rệt sau khi được tiếp cận khoa học mới. Chương trình đào tạo nghề cho bà con đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và chuyển dịch cơ cấu lao động, giảm nghèo bền vững trên địa bàn.
Tuy nhiên, sau học nghề, bà con hầu hết tự tạo việc làm tại bản, xã và một số dịch vụ nhỏ lẻ, chủ yếu phục vụ gia đình, dân bản mà chưa có điều kiện tham gia vào làm việc tại các công ty, doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh nên cho thu nhập thấp. Do đó, cần có tầm nhìn chiến lược để bà con không những thoát nghèo, mà còn vươn lên làm chủ, hội nhập sâu rộng vào thị trường lao động./.
Bài, ảnh: Lại Thìn

 

Xem