Skip Ribbon Commands
Skip to main content
Sign In

Một số vấn đề mới trong công tác cai nghiện phục hồi hiện nay

15/07/2014

Việc sử dụng trái phép chất ma túy là nguyên nhân gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng về kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng. Từ nhiều năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã xác định tệ nạn ma túy là hiểm họa lớn cho toàn xã hội gây tác hại cho sức khỏe, làm suy thoái nòi giống, phẩm giá con người, phá hoại hạnh phúc gia đình, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự, an toàn xã hội và an ninh quốc gia, đe dọa sự ổn định, phát triển và thành quả đổi mới của đất nước.

Theo số liệu của Bộ Công an, tính đến tháng 6/2013 cả nước có 180.700 người nghiện ma túy có hồ sơ quản lý. Trong gần 2 thập kỷ qua, số người nghiện ma túy có hồ sơ quản lý đã tăng hơn 3 lần (từ 55.445 người cuối năm 1994) với mức tăng xấp xỉ 6.000 người nghiện mỗi năm. Tỷ lệ mắc nghiện ma túy trên 100.000 dân đã tăng hơn hai lần, từ 86 người năm 1995 người lên 193 người năm 2012. Đa số người nghiện ma túy ở Việt Nam ở độ tuổi dưới 30 và có xu hướng ngày càng trẻ hóa, trong đó nam giới thường xuyên chiếm khoảng 96% tổng số người nghiện có hồ sơ quản lý.
Người nghiện ma túy đã được phát hiện ở 63/63 tỉnh, thành phố, khoảng 90% quận, huyện, thị xã và gần 60% xã, phường, thị trấn trên cả nước. Đặc biệt, một số tỉnh vùng Tây Bắc có tỷ lệ người nghiện ma túy trên 100.000 dân cao hơn nhiều so với tỷ lệ chung của cả nước như: Điện Biên (1.359 người/100.000 dân; gấp 7 so với tỷ lệ chung của cả nước), Lai Châu (899người/100.000 dân; gấp 4,6 lần), Sơn La (795 người/100.000 dân; gấp 4,1 lần)…
Tình hình sử dụng ma túy có nhiều thay đổi phức tạp về loại ma túy và hình thức sử dụng. Thay cho thuốc phiện là loại ma túy được sử dụng chủ yếu trong những năm 90 của thế kỷ trước và đầu những năm 2.000 thì hiện nay có tới khoảng 75% người nghiện ở Việt chủ yếu sử dụng heroin, theo con đường tiêm chích. Bên cạnh đó, trong vòng 10 năm qua, thị trường chất kích thích dạng amphetamine (ATS) gia tăng nhanh chóng. Từ năm 2012, ATS đã vượt qua thuốc phiện để trở thành loại ma túy thứ hai được sử dụng rộng rãi trên thị trường ma túy bất hợp pháp tại Việt Nam và đến tháng 6/2013 khoảng 10% số người nghiện có hồ sơ quản lý chủ yếu sử dụng AST (số nghiện thuốc phiện là 7%).
Nghiện ma túy, hay lệ thuộc ma túy hiện đã được khoa học chứng minh là một căn bệnh của não bộ mang bản chất mãn tính và tái diễn, khiến cho người nghiện phải thôi thúc kiếm tìm để sử dụng cho dù biết rõ các hậu qủa của nó mang lại cho bản thân và những người xung quanh. Điều trị nghiện ma túy là một qúa trình lâu dài bao gồm tổng thể các biện pháp can thiệp hỗ trợ về y tế, tâm lý, xã hội và pháp luật làm thay đổi nhận thức, hành vi nhằm giảm tác hại của nghiện ma túy và giảm tình trạng sử dụng ma túy trái phép. Điều trị nghiện ma túy có thể phân thành hai loại hình chính, bao gồm: Điều trị nhằm chấm dứt sự lệ thuộc vào ma túy hay cai nghiện và điều trị duy trì thay thế, tức sử dụng các chất thay thế (như methadone) để điều trị nghiện chất dạng thuốc phiện.
Với các tiến bộ về dược học và hiểu biết khoa học về điều trị nghiện ma túy, cùng với hạn chế của biện pháp xử phạt hành chính đối với người nghiện ma túy, nguy cơ lây nhiễm HIV trong nhóm tiêm chích ma túy đã thúc đẩy một số quốc gia xem xét lại chính sách cai nghiện ma túy theo hướng chuyển từ cai nghiện bắt buộc tập trung sang tiếp cận giảm hại và đựa vào cộng đồng. Việc điều trị bao gồm hỗ trợ tâm lý, xã hội và điều trị thay thế chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế. Những nước áp dụng mô hình can thiệp giảm hại sớm thường mang lại hiệu quả rõ rệt trong việc ngăn chặn sự lây lan của HIV/AIDS, giảm tội phạm như Hongkong, Malaysia, Australia…
Ngày 27/12/2013, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 2596/QĐ-TTg phê duyệt Đề án đổi mới công tác cai nghiện ma túy tới năm 2020 với quan điểm thực hiện đa dạng hóa các biện pháp và mô hình điều trị bao gồm điều trị tự nguyện tại gia đình, cộng đồng và điều trị bắt buộc tại Trung tâm theo hướng tăng dần tiến tới điều trị tại cộng đồng là chủ yếu, giảm dần điều trị bắt buộc tại các Trung tâm với lộ trình phù hợp. Tạo điều kiện cho người nghiện dễ dàng tiếp cận với các dịch vụ điều trị thích hợp tại cộng đồng, điều trị bắt buộc chỉ áp dụng cho người nghiện ma túy có hành vi ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự, an toàn xã hội theo quýet định của tòa án.
Mục tiêu chung của Đề án là nhằm đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác dự phòng và điều trị nghiện nhằm giảm tác hại của nghiện ma túy, kiềm chế sự gia tăng số người nghiện mới góp phần đảm bảo trật tự, an toàn xã hội và nâng cao sức khỏe nhân dân; hỗ trợ người nghiện tái hòa nhập cộng đồng. Để đạt được mục tiêu trên Đề án đặt ra các nhiệm vụ chủ yếu sau:
1. Phát triển các cơ sở điều trị nghiện tự nguyện với chức năng cung cấp dịch vụ tư vấn, khám và điều trị toàn diện (bao gồm cả cai nghiện và điều trị thay thế) cho người nghiện ma túy. Các cơ sở điều trị nghiện tự nguyện có thể là cơ sở công lập hoặc cơ sở dân lập. Cơ sở công lập được hình thành dựa trên nền tảng cơ sở vật chất, tổ chức, cán bộ sẵn sàng có của ngành Lao động – TBXH và ngành Y tế tại các địa phương. Việc phát triển, quy hoạch các cơ sở điều trị nghiện tự nguyện (về số lượng, quy mô, vị trí) phải phù hợp với nhu  cầu điều trị, tại mỗi địa phương, thuận lợi cho việc đi lại của người bệnh, tránh dàn trải lãng phí.
2. Phát triển điểm tư vấn, chăm sóc hỗ trợ điệu trị nghiện tại cộng đồng. Cơ sở, trang thiết bị, đội ngũ cán bộ của điểm tư vấn chăm sóc hỗ trợ điều trị tại cộng đồng chủ yếu sử dụng Trạm y tế cấp xã để hoạt động nhưng phải đảm bảo các điều kiện theo quy định của cơ sở cấp phát thuốc điều trị thay thế và các quy định về tư vấn, chăm sóc, hỗ trợ điều trị nghiện. Cán bộ làm việc tại các điểm tư vấn chăm sóc hỗ trợ điều trị nghiện tại cộng đồng chủ yếu là kiêm nhiệm và những người tình nguyện tham gia, không hưởng tiền lương, tiền công từ ngân sách Nhà nước. Mục tiêu tới năm 2015 thành lập 500 điểm cấp phát thuốc điều trị thay thế tại các xã, phường, thị trấn trọng điểm về nghiện ma túy, trong đó lựa chọn 200 điểm để thực hiện thí điểm tư vấn hỗ trợ điều trị cho người nghiện.
3. Quy hoạch cơ sở điều trị nghiện bắt buộc theo hướng giảm dần. Tiến hành rà soát, đánh giá nhu cầu điều trị bắt buộc tại các địa phương từ đó xây dựng và thực hiện phương án quy hoạch phù hợp.
4. Xây dựng và thực hiện kế hoạch đào tạo về dự phòng và điều trị nghiện ma túy nhằm thống nhất chương trình khung, giáo trình, điều kiện tiêu chuẩn và trình tự thủ tục, thẩm quyền cấp giấy phép cho cơ sở đào tạo về điều trị nghiện nhằm từng bước chuẩn hóa đội ngũ cán bộ tham gia công tác này.
5. Nghiên cứu, xây dựng và triển khai chương trình giám sát đánh giá công tác điều trị nghiện bao gồm xây dựng bộ chỉ số thống kê, báo cáo giám sát, đánh giá định kỳ và thực hiện kiểm tra, giám sát, đánh giá hiệu quả công tác điều trị nghiện 2 năm/lần tại một số tỉnh, thành phố./.
TS. Nguyễn Thị Vân
Xem