Skip Ribbon Commands
Skip to main content
Sign In

THANH HÓA THỰC HIỆN CÔNG TÁC CHĂM SÓC BẢO VỆ TRẺ EM VÀ BẢO TRỢ XÃ HỘI

30/11/2013

Được sự quan tâm của các cấp uỷ Đảng, chính quyền và nhân dân trong tỉnh, năm 2011 vừa qua, Thanh Hóa đã đạt được một số thành tựu đáng khích lệ trong công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em , nhiều chỉ tiêu về chăm sóc sức khỏe, giáo dục ....

1. Một số kết quả công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em ở Thanh Hóa

Được sự quan tâm của các cấp uỷ Đảng, chính quyền và nhân dân trong tỉnh, năm 2011 vừa qua, Thanh Hóa đã đạt được một số thành tựu đáng khích lệ trong công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em , nhiều chỉ tiêu về chăm sóc sức khỏe, giáo dục cho trẻ em đã đạt hoặc vượt so với kế hoạch đề ra.

Công tác bảo vệ trẻ em, phòng ngừa trẻ em rơi vào hoàn cảnh đặc biệt được quan tâm. Các địa phương trong tỉnh đã có các biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn tình trạng trẻ em bị bạo lực, xâm hại như truyền thông, giáo dục nâng cao ý thức, trách nhiệm của các cấp chính quyền, tổ chức đoàn thể và mỗi người dân trong việc phát hiện, tố giác các hành vi bạo lực và xâm hại trẻ em. Số trẻ em lang thang kiếm sống giảm rõ rệt. Làng trẻ SOS, trung tâm Bảo trợ xã hội thường xuyên chăm sóc, nuôi dưỡng 163 trẻ em mồ côi, trẻ bị bỏ rơi, trẻ em tàn tật, khuyết tật, 148 trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt.
Thực hiện Quyết định của UBND phê duyệt kế hoạch phòng chống tai nạn thương tích cho trẻ em, Sở Lao động – Thương binh và Xã hội đã triển khai tuyên truyền rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng về công tác phòng chống tai nạn thương tích trẻ em trên địa bàn tỉnh, đồng thời tổ chức giới thiệu mô hình “Ngôi nhà an toàn cho trẻ em”; Tuy nhiên, tình trạng trẻ em bị đuối nước vẫn diễn biến phức tạp, tập trung cao điểm vào các tháng hè, năm 2011 toàn tỉnh có 15 trẻ em tử vong do đuối nước.
Công tác chăm sóc sức khoẻ trẻ em có chuyển biến tích cực, các chỉ tiêu về sức khoẻ, dinh dưỡng không ngừng cải thiện. Công tác tiêm chủng, phòng chống các dịch bệnh cho trẻ em được tăng cường. Chất lượng khám chữa bệnh cho trẻ em ở tuyến tỉnh và huyện ngày càng được nâng cao. Đội ngũ cán bộ y tế phục vụ cho công tác chăm sóc sức khoẻ trẻ em phát triển cả về số lượng và chất lượng. Các cơ sở y tế tuyến tỉnh, tuyến huyện được đầu tư nâng cấp, xây dựng mới, có Bệnh viện Nhi dành riêng cho trẻ em trong tỉnh. Nhiều kỹ thuật mới về lâm sàng, cận lâm sàng được áp dụng như: Thụ tinh trong ống nghiệm, mổ tim hở cho trẻ em... đã góp phần giảm số bệnh nhi phải chuyển tuyến trung ương.
Nhiều chỉ tiêu về sức khoẻ dinh dưỡng cho trẻ em đạt và vượt kế hoạch đề ra: Tỷ lệ xã, phường, thị trấn đạt chuẩn quốc gia về y tế đạt 78%; Tỷ lệ tử vong trẻ em dưới 1 tuổi giảm còn 20%o; Tỷ lệ tử vong trẻ em dưới 5 tuổi còn 25%o; Tỷ lệ tử vong bà mẹ liên quan đến thai sản là 69/100.000 trẻ em sinh ra sống; Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng (cân nặng/tuổi) giảm xuống còn 22% . Công tác tuyên truyền, vận động và giáo dục chủ trương, chính sách về sức khoẻ sinh sản được tăng cường; Các gia đình đã có ý thức cao trong việc chăm sóc bà mẹ và thai nhi. Tỷ lệ phụ nữ có thai tiêm vắc xin phòng uốn ván là 98%; Tỷ lệ phụ nữ có 3 lần đi khám thai trong khi có thai đạt 96%. Toàn tỉnh đã cấp được 324.901 thẻ bảo hiểm y tế cho trẻ em dưới 6 tuổi.
Tỷ lệ trẻ em khuyết tật, tàn tật được chăm sóc là 92%, tuy nhiên mới chỉ dừng lại ở mức độ thăm hỏi, tặng quà, động viên nhân các ngày Lễ, Tết. Bằng các nguồn vận động trong và ngoài nước qua Quỹ Bảo trợ trẻ em tỉnh đã hỗ trợ phẫu thuật tim bẩm sinh, mắt, môi, hàm ếch, phẫu thuật dị tật vận động và phục hồi chức năng cho trẻ em khuyết tật, tàn tật.
Trẻ em Thanh Hoá đã được cải thiện đáng kể về thể chất, trí tuệ và tinh thần. Các em được cung cấp kiến thức, kỹ năng tự chăm sóc và bảo vệ mình. Đến nay, toàn tỉnh có 7 nhà văn hoá thiếu nhi, sân chơi cho trẻ em cấp huyện; 634/637 xã có nhà văn hoá; 4.243 thôn, bản có nhà văn hoá; 637 xã và 3.467 thôn, bản có sân thể thao; 15 điểm vui chơi cấp huyện; 278 điểm vui chơi cấp xã, phường. Phát huy hiệu quả của các thiết chế văn hoá cơ sở, các ban, ngành, đoàn thể đã phối hợp tổ chức nhiều hoạt động vui chơi, giải trí như: tổ chức liên hoan văn nghệ, thi đấu thể thao. Các trung tâm, các nhà văn hoá, các trường học đã tổ chức vui chơi giải trí cho trẻ em như cắm trại, hội diễn văn nghệ, thi đấu bóng đá, triển lãm tranh thiếu nhi, hội thi kể chuyện, các trò chơi dân gian... trong đó chú trọng giáo dục cho trẻ em kỹ năng sống giúp trẻ tiếp cận các dịch vụ xã hội, bày tỏ ý kiến, quan điểm phù hợp với lứa tuổi. Tuy nhiên, các điểm vui chơi giải trí dành riêng cho trẻ em ở địa phương chưa nhiều, phần lớn còn nằm chung vào các điểm sinh hoạt cộng đồng nên hạn chế đến chất lượng các buổi sinh hoạt cho trẻ em.
Hệ thống thư viện trong đó phòng đọc sách, báo dành riêng cho trẻ em được hình thành và phát triển thu hút đông đảo trẻ em tham gia. Đã xây dựng và phát triển mới 2.080 phòng đọc sách, 27 phòng đọc sách thiếu nhi cấp huyện, 400 thư viện xã, phường, thị trấn. 80% thư viện cấp huyện và 63% thư viện cấp xã, khu dân cư cũng đã có các đầu sách, túi sách lưu động dành cho trẻ em.
Đài Phát thanh và Truyền hình tỉnh thường xuyên có các Chương trình dành cho thiếu nhi như: “Giai điệu tuổi hồng”, tâm sự tuổi mới lớn, chương trình hoạt hình giành cho thiếu nhi. Ngoài ra, còn tổ chức các sân chơi thu hút sự tham gia của trẻ em như: cuộc thi Chúng em với an toàn giao thông, Âm vang xứ Thanh, tiếng hát hoa phượng đỏ...
Cơ hội và hoạt động tăng cường sự tham gia của trẻ được phát huy và mở rộng. Trẻ em ngày càng có điều kiện để bày tỏ ý kiến và tham gia các hoạt động có liên quan đến bản thân dưới nhiều hình thức và ở các cấp độ như: ở trường học, địa phương, ở cấp quốc gia và quốc tế. Thực hiện sự chỉ đạo của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, UBND tỉnh, năm 2011, Sở Lao động – Thương binh và Xã hội Thanh Hoá đã phối hợp với Tổ chức Tầm nhìn Thế giới tại Việt Nam chuẩn bị các điều kiện và tổ chức thành công Diễn đàn trẻ em cấp tỉnh với sự tham gia của 64 trẻ em đến từ 10 huyện, thành phố trong tỉnh.
Mặc dù đã đạt được nhiều kết quả đáng kể, nhưng theo Sở Lao động – Thương binh và Xã hội Thanh Hóa thì trên thực tế, một số quyền của trẻ em Thanh Hóa chưa được thực hiện tốt, một số chỉ tiêu về bảo vệ trẻ em và vui chơi giải trí cho trẻ em không đạt, đặc biệt là chỉ tiêu giảm số lượng trẻ em bị xâm hại tình dục, bị lạm dụng sức lao động, bị bạo lực, tai nạn thương tích, nhiễm HIV... tác động trực tiếp đến việc thực hiện các quyền cơ bản của trẻ em, nhất là nhóm trẻ em nghèo, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt./.


2. Xóa nghèo, không thể thiếu nghị lực và ý chí vươn lên

            Trong những năm gần đây, Đảng, Nhà nước đã có nhiều chính sách, chương trình mục tiêu quốc gia hỗ trợ người nghèo vươn lên. Với sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, nhiều người nghèo đã nỗ lực phấn đấu, vươn lên thoát nghèo, làm giàu cho bản thân, gia đình và xã hội

           Tuy nhiên, tỷ lệ hộ đói nghèo giảm qua hàng năm tại một số huyện miền núi trên địa bàn tỉnh vẫn chưa thực sự bền vững, số hộ cận nghèo còn lớn. Đặc biệt, vẫn còn nhiều người nghèo cótư tưởng trông chờ, ỷ lại vào sự hỗ trợ của Nhà nước, chưa thực sự cố gắng vươn lên thoát nghèo.
           Cả xã hội quan tâm đến người nghèo
          Phấn đấu làm cho người nghèo hết nghèo, người giàu thì giàu thêm là chủ trương của Đảng trong tiến trình lãnh đạo toàn dân thực hiện công cuộc đổi mới theo hướng CNH, HĐH. Nhiều cơ chế, chính sách giúp  người nghèo nhanh chóng thoát nghèo, như: Chương trình 134, 135, 159, 167,v.v… Đặc biệt, chương trình giảm nghèo nhanh và bền vững theo Nghị quyết 30a đã thổi luồng sinh khí mới vào công cuộc xóa đói giảm nghèo trên địa bàn tỉnh và có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc tạo nên lực đẩy và cú huých  quan trọng, giúp các hộ dân 7 huyện nghèo có cơ hội thoát  nghèo bền vững. Ngay sau khi nghị quyết ban hành, Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh đã khẩn trương thành lập Ban chỉ đạo giảm nghèo của tỉnh do đồng chí Chủ tịch UBND tỉnh làm Trưởng ban. Đồng thời chỉ đạo 7 huyện nghèo ( Mường Lát, Quan Sơn, Quan Hóa, Lang Chánh, Bá Thước, Thường Xuân và Như Xuân) thành lập Ban chỉ đạo giảm nghèo của huyện. Để người dân, nhất là những hộ nghèo nắm được nội dung, mục đích, ý nghĩa của Nghị quyết 30a, tính nhân văn và bản chất tốt đẹp của các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, Ban chỉ đạo giảm nghèo các cấp đã phát hành gần 10 vạn tờ rơi đến các hộ trên địa bàn thuộc 7 huyện nghèo. Với nhiều hình thức tuyên truyền đa dạng, phong phú, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước đã đến được với những người nghèo. Đại bộ phận đều đón nhận chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước với tinh thần phấn khởi, kỳ vọng vào một tương lai tốt đẹp. Với sự tập trung lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy Đảng, chính quyền, sự tham gia tích cực của các tổ chức chính trị - xã hội, nhất là sự vào cuộc mạnh mẽ của người nghèo, xã nghèo, huyện nghèo, tác động của Nghị quyết 30a đã làm thay đổi đáng kể đời sống của những người nghèo và diện mạo của các địa phương nghèo. Để sử dụng hiệu quả nguồn vốn, tùy điều kiện thực tế, các địa phương đã có cách làm sáng tạo, linh hoạt trong cơ chế điều hành, chỉ đạo. Đối với các xã bản vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn, đất đai khô cằn, tập quán canh tác lại lạc hậu, năng suất chất lượng lúa kém, ngành Nông nghiệp chú trọng tăng cường các biện pháp khuyến nông, khuyến ngư. Từ các lớp chuyển giao khoa học kỹ thuật, đưa các mô hình thí điểm giống, cây con mới vào giúp bà con từng bước thay đổi phương thức sản xuất, chuyển đổi tư duy, cách làm. Nhiều mô hình thâm canh, chuyên canh, trang trại tổng hợp, như: nuôi gà thả vườn, dê sinh sản, bò sinh sản, cá - lúa, trồng ngô lai, ngô ngọt,... đã giải quyết phần nào hạn chế trên diện tích đất dốc, từng bước mở ra hướng phát triển kinh tế vườn đồi cho hàng nghìn hộ dân. Chính sách hỗ trợ cho các loài cây công nghiệp thế mạnh của các địa phương như cà phê, cây cao su tiểu điền, keo lá chàm, mía… cũng được triển khai từ nhiều năm nay với tổng diện tích lên tới hàng nghìn ha, tạo việc làm cho lao động phổ thông và nâng cao thu nhập cho người dân địa phương. Từ nguồn vốn chương trình 135/CP giai đoạn II đã hỗ trợ nhiều hộ gia đình nghèo mua trâu, bò sinh sản, máy móc phục vụ sản xuất nông nghiệp, từng bước giúp hộ nghèo cải thiện cuộc sống.
 
Theo khảo sát gần đây của Ban Dân tộc tỉnh và Ban Dân vận Tỉnh ủy, sự tác động của Nghị quyết 30a đã có tác động tích cực đến đời sống xã hội khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa. Tỷ lệ hộ nghèo tại 7 huyện nghèo trong tỉnh giảm xuống còn trên 45%; so với trước khi có Nghị quyết 30a, giảm gần 20%. Một số địa phương như các huyện: Thường Xuân, Như Xuân, Bá Thước… là những địa phương có cách làm hay, sáng tạo, mang lại hiệu quả thiết thực. Đơn cử, huyện Thường Xuân, là một trong 7 huyện nghèo của tỉnh, nhờ nỗ lực của cấp ủy, chính quyền và toàn xã hội và bản thân những người nghèo, đến nay, huyện đã hoàn thành việc xây dựng nhà theo Quyết định 167, với tổng kinh phí hỗ trợ gần 100 tỷ đồng (đạt 100% kế hoạch). Cùng với việc đầu tư xây dựng nhà ở cho các hộ nghèo, huyện Thường xuân cũng đã triển khai xây dựng nhiều hạng mục công trình phục vụ đời sống dân sinh với tổng  kinh phí gần 40 tỷ đồng. Điều đáng chú ý là, quá trình đầu tư các công trình đều được kiểm tra, giám sát chặt chẽ nên bảo đảm chất lượng, đúng tiến độ, phát huy hiệu quả. Bên cạnh đó, từ thực hiện chủ trương, chính sách dân tộc, nhất là Nghị quyết 30a, các hoạt động hỗ trợ dạy nghề, khuyến nông, khuyến lâm, xuất khẩu lao động cũng được triển khai, bước đầu mang lại hiệu quả thiết thực. 
 
Từ nguồn vốn đầu tư, hỗ trợ của Nhà nước, tỉnh đã khẩn trương triển khai các chương trình, dự án đầu tư nâng cấp hệ thống cơ sở hạ tầng. Với số tiền đầu tư lên đến hàng nghìn tỷ đồng, nhiều công trình thuộc cơ sở hạ tầng thiết yếu như, điện, đường, trường, trạm, hệ thống kênh mương…đã được đầu tư xây dựng. Nhiều vùng, người nghèo còn được hỗ trợ cây, con giống để trồng trọt, chăn nuôi, tăng thu nhập, cải thiện đời sống, làm thay đổi diện mạo các bản, làng miền núi, vùng sâu, vùng xa. Bên cạnh các chương trình mục tiêu quốc gia, tỉnh cũng đã ban hành nhiều cơ chế, chính sách nhằm giúp các hộ nghèo, xã nghèo, huyện nghèo, như: Chính sách về hỗ trợ sản xuất, tạo việc làm, tăng thu nhập; Chính sách khuyến khích phát triển chăn nuôi đại gia súc; Chính sách về giáo dục - đào tạo, dạy nghề, nâng cao dân trí; chính sách cán bộ, v.v... và nhiều đề án phát triển kinh tế- xã hội khác. Trên cơ sở rút kinh nghiệm quá trình triển khai thực hiện các chương trình phát triển kinh tế - xã hội, các địa phương đã nhanh chóng khắc phục những yếu kém, tồn tại, nhất là những hạn chế trong việc xây dựng kế hoạch, quy hoạch; việc sử dụng nguồn vốn đầu tư; việc quản lý, khai thác các hạng mục công trình, v.v. Nhiều địa phương thực hiện nghiêm việc khảo sát, xây dựng kế hoạch, phục vụ tốt việc phân bổ nguồn vốn từ trên xuống, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu phát triển sản xuất theo hướng sản xuất hàng hóa của người dân trên từng vùng, từng địa bàn dân cư, giúp khai thác tốt nội lực, tiềm năng thế mạnh trong xây dựng, phát triển kinh tế- xã hội, giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, nâng cao dân trí, bảo vệ môi trường, gắn với tăng cường củng cố vững chắc quốc phòng, an ninh.
 
              Thoát nghèo, không thể thiếu nghị lực, ý chí vươn lên
 
Với sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, hàng loạt các chính sách ưu đãi, các chương trình, dự án được đầu tư để cải thiện đời sống của đồng bào dân tộc thiểu số, đồng bào vùng cao là động lực, cơ hội để người dân vươn lên xóa đói giảm nghèo. Tuy nhiên, ý thức của người dân lại là vấn đề quyết định. Theo quy định mới về tiêu chí hộ nghèo, mỗi người có thu nhập không dưới 400.000 đồng/người/tháng (đối với lao động nông thôn) là đã thoát nghèo. Nhìn từ yếu tố nội lực, bà con ở nông thôn có tư liệu sản xuất từ ruộng, nương, có thể trồng lúa, trồng cây ăn quả, chăn nuôi gia cầm, gia súc nếu tận dụng hết quỹ đất sẵn có thì nông dân không thể không thoát nghèo. Trong chuyến kiểm tra tình hình thực hiện Nghị quyết 30a, Chương trình 134, 135 và các chương trình, chính sách đặc thù khác cho vùng đồng bào dân tộc và miền núi vào đầu tháng 5-2012, làm việc với huyện Như Xuân, đồng chí Phạm Đăng Quyền, Tỉnh ủy viên, Phó Chủ tịch UBND tỉnh cho rằng:trong điều kiện giao thông, kinh tế của địa phương, lãnh đạo huyện, cán bộ chủ chốt trước mắt phải hướng dẫn để bà con thoát đói nghèo, bằng cách vận động bà con tự túc lương thực, cải thiện được cuộc sống. Đó là những việc không hề đơn giản mà cán bộ phải xắn tay áo hướng dẫn, làm cùng nhân dân. Với cách tính đơn giản, có thể thấy, nếu chăm chỉ làm ăn, thì mỗi người dân không phải lo thu nhập chỉ 400.000 đồng/tháng/người mà còn cao hơn nhiều. Bài học rút ra là, những chính sách, hỗ trợ của các cấp, các ngành mới là điều kiện đủ, điều kiện cần để xoá đói giảm nghèo bền vững chính là sự nỗ lực của bản thân mỗi người dân... Bên cạnh sự nỗ lực của các cấp ủy, chính quyền và toàn xã hội trong triển khai thực hiện các chủ trương, chính sách về xóa đói, giảm nghèo thông qua nhiều chương trình hỗ trợ  vốn, giống, ngày công, hướng dẫn áp dụng khoa học kỹ thuật, bản thân một số người nghèo ở một số địa phương vẫn còn tư tưởng trông chờ, ỷ lại, thiếu ý thức vươn lên. Việc được Đảng, Nhà nước “bao cấp” (giáp hạt, thiếu đói đã có gạo Nhà nước, không có tiền ăn Tết cũng có Nhà nước, nhà cửa xuống cấp, hư hỏng, rồi không có nhà cũng có Nhà nước cấp tiền để làm mới,v.v... và v.v...) ít nhiều đã ăn sâu vào suy nghĩ của một bộ phận người nghèo. Tình trạng có đất mà không chịu trồng lúa, trồng ngô; có trâu, bò mà không chịu chăm sóc, để cho gầy còm, ốm yếu rồi xẻ thịt, uống rượu; thậm chí có người nghèo được vay tiền từ Ngân hàng Chính sách xã hội (CSXH) mà không biết tổ chức sản xuất, để ăn dần vào cả gốc, v.v. là những chuyện không phải khó tìm.
 
          Trao đổi vấn đề này, một lãnh đạo UBND huyện Bá Thước cho hay: thoát nghèo, quan trọng nhất là khơi dậy ý thức tự vươn lên của mỗi hộ nông dân. Bởi khi người dân không có khát vọng làm giàu, tinh thần quyết tâm học hỏi thì sự hỗ trợ, đầu tư bên ngoài cũng khó phát huy tác dụng.Mặc dù đã được các cấp ủy, chính quyền, đoàn thể tuyên truyền giáo dục, nhưng vẫn còn những hộ nghèo mang nặng tư tưởng thụ động, dựa dẫm mà Hộ anh Bùi Văn M. ở xã Điền Hạ (Bá Thước) là một ví dụ. Là hộ nghèo, khó khăn, gia đình anh M… được xét vào diện được vay vốn ưu đãi từ Ngân hàng CSXH để đầu tư phát triển sản xuất. Thay vì sau khi nhận tiền, phải đầu tư để tổ chức sản xuất, anh M. bọc toàn bộ số tiền vay cẩn thận, cất vào chỗ an toàn. Đến hẹn, anh lại rút ra một ít để trả lãi. Một năm thấy anh trả lãi đều đặn, nhân viên ngân hàng xuống kiểm tra mới té ngửa là toàn bộ số tiền được vay vẫn còn nguyên một chỗ, có chăng chỉ thâm hụt do trả lãi cho ngân hàng hằng tháng mà thôi.
Cũng như anh M., anh T. ở xã Bát Mọt (Thường Xuân) cũng vậy. Thuộc diện được hỗ trợ tiền làm nhà nhưng cũng không biết xoay sở làm sao để có thêm nguyên liệu cũng như kinh phí để xây nhà. Mãi đến khi chính quyền, đoàn thể địa phương “xắn tay áo” anh mới chịu tham gia. Rồi cả khi có nhà mới, anh vẫn ung dung, không tính tới chuyện đầu tư cho sản xuất, chăn nuôi để tạo nguồn thu nhập ổn định mà chỉ lo việc mua sắm đồ dùng sinh hoạt cá nhân như xe máy, điện thoại, rồi giao du cùng bạn rượu. Không riêng Bá Thước, Thường Xuân, ở huyện Mường Lát một số hộ đồng bào Khơ Mú ở bản Đoàn Kết, xã Tén Tằn, mặc cho chính quyền địa phương đã có nhiều chính sách khuyến khích, hỗ trợ để người dân tham gia trồng rừng, nhưng họ vẫn không mấy mặn mà; hoặc như người Mông ở bản Xì Lồ (Mường Lý) do tập quán du canh du cư nên chỉ thích trồng ngô, một vài vụ, khi đất xấu đi, lại tìm khoảnh đất khác canh tác. Hay như ở xã Nhi Sơn, mặc dù điều kiện khí hậu thời tiết thuận lợi cho việc trồng rau xanh cải thiện bữa ăn hàng ngày, nhưng nhiều người vẫn không lấy đó làm lợi thế, trong khi nguồn rau cung cấp chủ yếu cho người Mường Lát lại từ dưới xuôi lên...
 
              Tư tưởng trông chờ, ỷ lại của những hộ nghèo vừa kể trên không phải là cá biệt ở các huyện Quan Hóa, Quan Sơn, Bá Thước, Lang Chánh, Như Xuân... Theo ông Cao Đình Nguyệt, Chủ tịch UBND huyện Quan Hóa, nguyên nhân chính dẫn đến đói nghèo là do trình độ dân trí thấp, cùng với thiếu kiến thức và kinh nghiệm sản xuất. Bên cạnh đó, tư tưởng trông chờ ỷ lại, tự ty mặc cảm, chấp nhận đói nghèo vẫn chưa được xóa bỏ khỏi suy nghĩ của một số người dân. Vì vậy, để giúp những người nghèo thoát nghèo bền vững, cùng với các chính sách hỗ trợ của Nhà nước, cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động, nâng cao ý thức vươn lên của chính những hộ nghèo; phải xóa bỏ hoàn toàn tư tưởng “xin làm hộ nghèo” để được nhận sự hỗ trợ từ phía Nhà nước. Để đạt mục tiêu mà Chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đề ra: đến năm 2015 giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống ngang bằng mức trung bình của tỉnh và đến năm 2020 giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống mức ngang bằng trung bình của khu vực. Bên cạnh việc thực hiện đồng bộ các chương trình dự án, chế độ, chính sách, các cấp hội, chính quyền đoàn thể cơ sở cần trang bị, phổ biến cho bà con những kiến thức, kinh nghiệm cần thiết trong việc chi tiêu hợp lý. Để làm được như vậy, hơn hết chính bản thân mỗi người dân, mỗi hộ nghèo, người nghèo cần phải đổi mới tư duy, cách làm của mình, tự vận động, quyết tâm và có sự bứt phá vươn lên từ trong suy nghĩ về việc làm kinh tế. Tại những vùng đặc biệt khó khăn, nơi sinh sống của đồng bào dân tộc thiểu số cần tiếp tục thực hiện biện pháp “cầm tay chỉ việc”, giúp bà con tiếp cận cái mới, tận mắt nhìn thấy kết quả để tin và làm theo. Điều này cũng có nghĩa phải tập để  hộ nghèo tự  tay cầm cái  “cần câu” mà Nhà nước đã trao để câu được những “con cá” cho mình. Có như vậy, mới giúp người dân thực sự yên tâm, mạnh dạn đầu tư, mở rộng quy mô sản xuất, con đường thoát nghèo cho những người nghèo mới có thể rút ngắn hơn, bền vững hơn bằng chính khả năng sẵn có của họ, góp phần đáng kể vào việc thực hiện chỉ tiêu xóa đói giảm nghèo của tỉnh.


Xem