Trường hợp nào không thuộc đối tượng đóng bảo hiểm thất nghiệp?

6/30/2014 12:00:00 AM

Công ty của bà Nguyễn Mai Thanh có trường hợp người lao động xin nghỉ việc không hưởng lương 1 tháng và có trường hợp 12 ngày/tháng. Tổng số ngày làm việc của công ty bà Thanh tối đa là 23 ngày/tháng. Vậy, công ty của bà Thanh có phải đóng bảo hiểm thất nghiệp cho những trường hợp này không hay họ phải tự đóng?


Về vấn đề này, bà Nguyễn Thị Hải Vân, Cục trưởng Cục Việc làm - Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội trả lời như sau:
Theo quy định tại Điều 2 Nghị  định số 127/2008/NĐ-CP ngày 12/12/2008 của Chính phủ  quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội về bảo hiểm thất nghiệp đã được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 100/2012/NĐ-CP ngày 21/11/2012 và các văn bản hướng dẫn thì:
Người lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp là công dân Việt Nam giao kết các loại hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc sau đây với người sử dụng lao động có sử dụng từ 10 người lao động trở lên tại các cơ quan, đơn vị, tổ chức, doanh nghiệp
- Hợp đồng lao động xác định thời hạn từ đủ 12 tháng đến 36 tháng
- Hợp đồng lao động không xác định thời hạn
- Hợp đồng làm việc xác định thời hạn từ đủ 12 tháng đến 36 tháng
- Hợp đồng làm việc không xác định thời hạn.
Người lao động nghỉ việc hưởng chế độ thai sản hoặc ốm đau từ 14 ngày làm việc trở lên trong tháng, không hưởng tiền lương, tiền công tháng tại đơn vị mà hưởng trợ cấp bảo hiểm xã hội; người lao động tạm hoãn thực hiện giao kết hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc theo quy định của pháp luật thì thời gian này người lao động không thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm thất nghiệp.Như vậy, thời gian tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động đã giao kết giữa người lao động và người sử dụng lao động thì không thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm thất nghiệp.