NGHỆ AN VỚI CÔNG TÁC BẢO VỆ CHĂM SÓC TRẺ EM VÀ AN TOÀN VỆ SINH LAO ĐỘNG

10/22/2014 12:00:00 AM

Cùng với đó, công tác an toàn vệ sinh lao động cũng chưa được các doanh nghiệp quan tâm đúng mức, hầu hết các đơn vị khi được kiểm tra đều chưa thực hiện các quy định của pháp luật về an toàn vệ sinh lao động như: Xây dựng kế hoạch an toàn vệ sinh lao động; thành lập mạng lưới an toàn, vệ sinh viên; thực hiện công tác tự kiểm tra an toàn vệ sinh lao động; không tổ chức huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động cho người lao động. Không có biện pháp bảo vệ, che chắn đối với các thiết bị nguy hiểm như dây cu roa, lưỡi cưa…; không có biện pháp bảo vệ môi trường. Bên cạnh đó, người lao động hầu như không được trang bị các phương tiện bảo vệ cá nhân cũng như các chế độ bồi dưỡng độc hại, khám sức khỏe định kỳ và khám phát hiện bệnh nghề nghiệp;…


1. Nghệ An: Cần tăng cường đảm bảo an toàn tại các mỏ khai thác đá

 Trong những năm gần đây, do nhu cầu về vật liệu xây dựng gia tăng khiến hoạt động khai thác đá phát triển mạnh ở nhiều địa phương trong cả nước, trong đó phải kể đến Nghệ An.

Những năm qua, ngành khai thác, chế biến khoáng sản trên địa bàn tỉnh Nghệ An tương đối phát triển đã góp phần quan trọng cho kinh tế xã hội của tỉnh, tạo ra khối lượng sản phẩm hàng hóa phục vụ nhu cầu trong nước và xuất khẩu, giúp tăng nguồn thu cho ngân sách Nhà nước, giải quyết việc làm, thu nhập ổn định cho hàng ngàn lao động, đồng thời góp phần đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa. Tuy nhiên việc khai thác khoáng sản một cách bừa bãi, thiếu quy hoạch cũng gây ảnh hưởng không nhỏ tới môi trường tự nhiên, đặc biệt còn tiềm ẩn nhiều nguy cơ về tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp.

Thực tế trên địa bàn tỉnh Nghệ An đã xảy ra nhiều vụ sập mỏ đá có tính chất đặc biệt nghiêm trọng, gây thương vong lớn, trong đó phải kể đến vụ sập núi đá tại công trình thủy điện Bản Vẽ tại huyện Tương Dương khiến 18 người tử vong và vụ tai nạn tại mỏ đá Lèn Cờ làm chết và bị thương 24 người. Đây là hồi chuông báo động về tình trạng mất an toàn lao động đang diễn ra ở hầu khắp các mỏ đá trên địa bàn Nghệ An.

Tình trạng mất an toàn lao động đang diễn ra phổ biến ở các mỏ đá trên địa bàn Nghệ An

Vừa qua, Sở LĐTBXH Nghệ An đã tiến hành kiểm tra công tác an toàn vệ sinh lao động tại các cơ sở khai thác, chế biến đá trên địa bàn huyện Quỳ Hợp, kết quả cho thấy: 14% doanh nghiệp không ký hợp đồng lao động với người lao động và 50% ký không đúng loại hợp đồng. Hầu hết các doanh nghiệp chỉ ký với người lao động loại hợp đồng theo kiểu thời vụ (trên thực tế các cơ quan chức năng cũng không thể nắm được số lao động làm việc tại các mỏ đá do doanh nghiệp thuê lao động làm công, không có hợp đồng lao động và số lao động làm việc tại các mỏ đá cũng tăng giảm tuỳ theo thời điểm, theo mùa xây dựng).

Cùng với đó, công tác an toàn vệ sinh lao động cũng chưa được các doanh nghiệp quan tâm đúng mức, hầu hết các đơn vị khi được kiểm tra đều chưa thực hiện các quy định của pháp luật về an toàn vệ sinh lao động như: Xây dựng kế hoạch an toàn vệ sinh lao động; thành lập mạng lưới an toàn, vệ sinh viên; thực hiện công tác tự kiểm tra an toàn vệ sinh lao động; không tổ chức huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động cho người lao động. Không có biện pháp bảo vệ, che chắn đối với các thiết bị nguy hiểm như dây cu roa, lưỡi cưa…; không có biện pháp bảo vệ môi trường. Bên cạnh đó, người lao động hầu như không được trang bị các phương tiện bảo vệ cá nhân cũng như các chế độ bồi dưỡng độc hại, khám sức khỏe định kỳ và khám phát hiện bệnh nghề nghiệp;…

Một điều đáng nói là hiện nay, có không ít doanh nghiệp, đơn vị khai thác đá trên địa bàn tỉnh Nghệ An nói riêng, trên địa bàn cả nước nói chung không có đủ những điều kiện bắt buộc về an toàn lao động nhưng vì một lý do nào đó vẫn có được giấy phép khai thác. Lợi nhuận thu được từ việc khai thác đá khiến cho nhiều chủ doanh nghiệp, đơn vị khai thác đá phớt lờ các quy định về phổ biến, giám sát kỹ thuật khai thác và trang bị các phương tiện bảo hộ tối thiểu cho người lao động. Cùng với đó là việc áp dụng công nghệ thô sơ, lạc hậu như: khoan lỗ, đặt mìn từ dưới chân núi, tạo ra các “hàm ếch”, nhiều mỏ khai thác đá lại không hề có các biển báo khu vực nguy hiểm cũng như các điểm tránh trú ẩn an toàn cho công nhân khi nổ mìn, đó là một trong những nguyên nhân gây mất an toàn lao động.

 Bên cạnh đó, người lao động trực tiếp làm việc tại các mỏ đá phần lớn là những người nghèo. Ngoài nghề nông, lúc thời vụ nông nhàn, rảnh rỗi, họ không thể kiếm được một nghề nào khác đành chấp nhận làm công nhân theo kiểu “thời vụ” ở các mỏ đá tư nhân. Một mặt chủ các doanh nghiệp khai thác đá chưa chú trọng huấn luyện kỹ thuật khai thác, trang bị các phương tiện, thiết bị bảo hộ lao động cho công nhân nhưng mặt khác, nhận thức của bản thân người lao động về vai trò của công tác bảo hộ lao động, an toàn vệ sinh sản xuất, phòng chống tai nạn cho chính bản thân cũng còn hạn chế. Do thiếu nhận thức, không ít người lao động đã bỏ qua các nguyên tắc an toàn, khoa học trong quá trình khai thác, miễn sao khai thác được nhiều sản phẩm để có được nhiều tiền.

Một nguyên nhân quan trọng khác ảnh hưởng đến sự an toàn trong quá trình khai thác ở các mỏ đá thời gian qua là sự phân công trách nhiệm quản lý Nhà nước đối với hoạt động thăm dò, khai thác đá giữa các cấp, ngành địa phương còn chưa rõ ràng, thống nhất, thiếu các chế tài xử lý vi phạm, nhất là những vi phạm về kỹ thuật an toàn trong thiết kế và thi công khai thác đá. Đặc biệt, chính quyền ở các địa phương có mỏ đá còn chưa kiểm soát chặt chẽ nguồn tài nguyện đá để cho tình trạng khai thác trái phép, không phép kéo dài xảy ra.

Để không còn những vụ tai nạn thương tâm do sập mỏ đá cũng như đảm bảo hiệu quả kinh tế - xã hội ở những địa phương có các mỏ đá, công tác quản lý cả về tài nguyên và hoạt động khai thác cần được chú trọng hơn. Các cấp, ngành, đặc biệt là chính quyền địa phương có các mỏ đá trên địa bàn cần nhanh chóng tiến hành kiểm tra, rà soát mức độ bảo đảm an toàn của các mỏ đá, kiên quyết dừng khai thác, rút giấy phép và không cấp phép mới đối với những mỏ không an toàn trong khai thác. Bên cạnh khâu tuyên truyền, nâng cao nhận thức về an toàn vệ sinh đối với người lao động trực tiếp sản xuất, cần nâng cao trách nhiệm đối với chủ khai thác mỏ đá. Cần phải có những chế tài, quy định cụ thể, chi tiết về việc chủ sử dụng lao động phải huấn luyện kỹ thuật, trang bị những phương tiện bảo hộ tối thiểu cho người lao động. Nhất là, phải có người có chuyên môn kỹ thuật trong lĩnh vực khai thác đá thường xuyên kiểm tra, giám sát trong quá trình khai thác. Đặc biệt, phải tuân thủ nghiêm ngặt quy trình khai thác theo nguyên tắc khoa học, tránh tái diễn tình trạng khai thác kiểu “hàm ếch” từ dưới lên làm hổng chân đá. Những bài học từ một số vụ sập mỏ đá thời gian qua cần được các cơ quan chức năng, chủ các doanh nghiệp khai thác đá và bản thân người lao động thấm thía, nghiêm túc tiếp thu, tránh những vụ việc đau lòng tương tự xảy ra.


 

 

 

2. Nghệ An Tăng cường thực hiện chính sách, pháp luật về Bảo vệ, chăm sóc trẻ em thời gian tới
 

Thực hiện Chỉ thị số 38/CT-TW ngày 30 tháng 5 năm 1994 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về tăng cường công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục (BVCSGD) trẻ em; Chỉ thị số 55/CT-TW ngày 28 tháng 6 năm 2000 của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của các cấp uỷ Đảng cơ sở đối với công tác BVCSGD trẻ em; Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em và các văn bản quy phạm pháp luật khác liên quan đến công tác BVCSGD trẻ em. Trong những năm qua, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy đảng, chính quyền, sự phối hợp thực hiện của của các ngành, đoàn thể của cộng đồng và mỗi gia đình nên các chỉ tiêu Chương trình hành động vì trẻ em tỉnh Nghệ An giai đoạn 2001 -2010 đạt kết quả. Nổi bật là công tác chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt có bước chuyển biến tích cực, được tổ chức dưới nhiều hình thức đa dạng và phù hợp với nhu cầu của từng nhóm đối tượng, tạo điều kiện thuận lợi cho trẻ em được phát triển hài hòa về thể chất, trí tuệ và tinh thần, giúp đỡ những trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn vươn lên hòa nhập cuộc sống. Tỷ lệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt được chăm sóc từ 45% năm 2001 lên 80% năm 2010. Hàng nghìn em khuyết tật vận động được cấp xe lăn miễn phí. Hàng chục ngàn lượt trẻ em được tặng quà, cấp học bổng nhân dịp Tháng hành động vì trẻ em và các dịp lễ, tết cổ truyền, tết Trung thu, ngày 1/6, ngày toàn dân đưa trẻ đến trường hoặc trợ cấp đột xuất. Số trẻ em thuộc diện được hưởng chính sách trợ cấp theo Nghị định 67/2007/NĐ-CP và Nghị định 13/2009/NĐ-CP (sửa đổi) đạt 100%. Trẻ em lang thang kiếm sống giảm rõ rệt, từ 267 em lang thang kiếm sống năm 2005 xuống còn 25 em năm 2010.

Số trẻ em phải lao động nặng nhọc trong điều kiện độc hại nguy hiểm từng bước được tư vấn và trợ giúp. Số trẻ em bị xâm hại tình dục được phát hiện và trợ giúp kịp thời, tái hòa nhập cộng đồng. Công tác phát hiện, điều tra, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm Luật Hôn nhân gia đình; các vụ việc xâm hại, buôn bán, ngược đãi trẻ em và các hành vi làm ảnh hưởng đến sự phát triển nhân cách của trẻ em được tăng cường; xử lý kịp thời, đúng pháp luật các vụ án là người chưa thành niên phạm tội. Từ năm 2001 đến năm 2010, phát hiện điều tra xử lý 135 vụ hiếp dâm, cưỡng dâm, dâm ô, giao cấu với trẻ em; khởi tố điều tra 32 vụ, 68 bị can về hành vi buôn bán phụ nữ, trẻ em; xác lập khám phá 10 chuyên án, bắt 25 đối tượng, qua đó đã giải cứu được 20 nạn nhân trẻ em khỏi các tụ điểm mại dâm; lập hồ sơ đưa vào trường giáo dưỡng 458 trẻ em và người chưa thành niên phạm tội.

Đồng thời, các cấp các ngành đã quan tâm đến công tác phổ biến giáo dục pháp luật liên quan đến trẻ em, tăng cường công tác truyền thông vận động xã hội về bảo vệ, chăm sóc trẻ em, nên nhận thức và trách nhiệm về bảo vệ, chăm sóc trẻ em của người dân được nâng lên, các quyền cơ bản của trẻ em được thực hiện khá đầy đủ, góp phần ổn định và phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh. Phải nói rằng, chúng ta có một hệ thống từ chủ trương, pháp luật, chính sách đến cơ chế, tổ chức để vận hành công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em khá đồng bộ nhưng so với tốc độ và yêu cầu phát triển kinh tế xã hội của đất nước thì phát triển nguồn nhân lực còn chậm và nhiều bất cập. Thời gian qua tuy có sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy Đảng, chính quyền đối với công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em, nhưng trong thực tế bên cạnh những kết quả đã đạt được, việc triển khai thực hiện chính sách pháp luật về công tác BVCS trẻ em trên địa bàn tỉnh Nghệ An vẫn còn nhiều khó khăn, hạn chế. Là tỉnh có diện tích đất tự nhiên lớn nhất cả nước, địa hình đa dạng, phức tạp, dân số đông. Toàn tỉnh có 17 huyện, 2 thị xã và 1 thành phố (với 480 xã, phường, thị trấn), trong đó có 11 huyện miền núi. Số trẻ em từ 0 đến 16 tuổi là 889.224 người, chiếm 30,4% dân số. Số trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt còn cao, năm 2011 có 31.731 em, chiếm gần 1,1 % tổng dân số và 3,6% tổng số trẻ em. Ngoài ra, còn có 157.664 trẻ em có hoàn cảnh khó khăn khác, bao gồm: trẻ em bị buôn bán, bắt cóc; trẻ em bị ngược đãi, bạo lực; trẻ em sống trong gia đình nghèo và trẻ em bị tai nạn thương tích.

Bên cạnh đó, việc xây dựng môi trường sống an toàn thân thiện cho trẻ em ở một số địa phương còn hạn chế. Một số gia đình, tổ chức thiếu trách nhiệm với con trẻ, chưa coi trọng vấn đề bảo vệ trẻ em, thiếu hiểu biết về luật pháp, không nhận thức được các hành vi vi phạm quyền trẻ em, dẫn đến việc thực thi pháp luật, ý thức chấp hành các quy định của pháp luật về bảo vệ, chăm sóc trẻ em còn yếu. Một số địa phương chưa khơi dậy và phát huy hết các nguồn lực, vai trò, trách nhiệm của gia đình, trường học, cộng đồng cơ sở đối với công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em; công tác truyền thông vận động để mọi người dân thực hiện tốt các văn bản pháp luật về bảo vệ trẻ em còn hạn chế, chưa rộng khắp đến vùng núi, vùng sâu, vùng xa. Việc quản lý đối tượng trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, trẻ em có nguy cơ rơi vào hoàn cảnh đặc biệt thiếu chặt chẽ; việc phát hiện, can thiệp sớm các đối tượng trẻ em bị bạo lực, bị xâm hại chưa kịp thời, để lại hậu quả nghiêm trọng cho trẻ em, gia đình và xã hội v.v...

Những vấn đề trên đã ảnh hưởng không nhỏ đến việc thực hiện các chính sách, pháp luật về BVCS trẻ em. Để tăng cường thực hiện chính sách, pháp luật về bảo vệ chăm sóc trẻ em, nhằm hạn chế các hành vi xâm hại, ngược đãi, bạo lực, bóc lột trẻ em, đảm bảo thực hiện đầy đủ các quyền cơ bản của trẻ em trên địa bàn tỉnh trong thời gian tới cần thực hiện tốt một số giải pháp như sau: Một là, tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp uỷ đảng và chính quyền các cấp đối với công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em. Tiếp tục quán triệt Chỉ thị số 38-CT/TW của Ban Bí thư, Chỉ thị số 55-CT/TW của Bộ Chính trị, Chỉ thị số 1408/CT-TTg ngày 01/9/ 2009 và Chỉ thị số 04/CT-TU ngày 12/7/2011 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về tăng cường công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em trong tình hình mới đến từng chi bộ, đảng viên, đưa nội dung chỉ thị vào sinh hoạt thường kỳ của chi bộ. Hai là, Đẩy mạnh và đổi mới các hoạt động truyền thông, giáo dục, tư vấn về bảo vệ, chăm sóc trẻ em. Chú trọng công tác giáo dục, phổ biến pháp luật, đặc biệt là Công ước quốc tế về quyền trẻ em; Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, Luật Hôn nhân và gia đình; nâng cao hiểu biết và ý thức chấp hành pháp luật liên quan đến bảo vệ, chăm sóc trẻ em; giáo dục kiến thức, kỹ năng, biện pháp bảo vệ, chăm sóc trẻ em cho cộng đồng, gia đình và cho bản thân các em. Đưa các nội dung nêu trên vào chương trình sinh hoạt của đoàn thể ở cơ sở như Hội Phụ Nữ, Đoàn Thanh niên, Hội Nông dân, Hội Cựu chiến binh … Ba là, tiếp


Nghệ An tập trung phát triển mạng lưới cơ sở dạy nghề

Những năm gần đây, mạng lưới cơ sở dạy nghề ở Nghệ An tăng nhanh theo hướng xã hội hóa dạy nghề, nếu tính từ năm 2007 toàn tỉnh mới có 49 đươn vị thì đến hiện nay đã là 62 cơ sở dạy nghề.

Trong tổng số đó có 5 trường cao đẳng nghề, 8 trường trung cấp nghề, 23 trung tâm dạy nghề và 26 cơ sở có tham gia dạy nghề. Hầu hết các cơ sở dạy nghề không ngừng được đầu tư, nâng cấp mở rộng quy mô và tất cả các địa phương ở Nghệ An đều có cơ sở dạy nghề, đáp ứng nhu cầu học nghề của lao động, góp phần nâng cao chất lượng nguồn lao động và chuyển dịch cơ cấu lao động trên địa bàn.

 

 

Ngoài nguồn kinh phí được trung ương hỗ trợ, địa phương và các cơ sở dạy nghề đã dành kinh phí đầu tư để cùng thực hiện mục tiêu tăng cường năng lực đào tạo nghề. Nguồn lực đầu tư cho dạy nghề ngày càng tăng đã thực sự hỗ trợ tăng cường cơ sở vật chất, trang thiết bị cho các cơ sở dạy nghề, từng bước tăng quy mô, nâng cao chất lượng đào tạo. 5 năm gần đây, kinh phí đầu tư tăng cường cơ sở vật chất, trang thiết bị cho các cơ sở dạy nghề của Nghệ An lên đến hàng trăm tỷ đồng.

Đào tạo nghề tại các làng nghề ở Nghệ An đang phát huy hiệu quả

Song song với tập trung phát triển, quy hoạch mạng lưới dạy nghề, việc đa dạng hóa các trình độ đào tạo, các hình thức dạy nghề, mở rộng cơ cấu ngành nghề đào tạo đã làm cho quy mô học nghề ở Nghệ An cũng tăng nhanh. Ngoài việc đào tạo tập trung, các cơ sở dạy nghề còn tổ chức đào tạo liên thông, liên kết giữa các trường, các trung tâm của địa phương với trung ương, giữa các trường và các trung tâm trong tỉnh với nhau. Đồng thời, tổ chức đào tạo theo đơn đặt hàng của các doanh nghiệp, khu công nghiệp, đào tạo cạnh xí nghiệp và đào tạo tại các làng nghề để củng cố và phát triển các làng nghề. Thời điểm năm 2007, các cơ sở dạy nghề ở Nghệ An đào tạo cho gần 33.800 người, tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 21%. Tính đến hết năm 2011, đào tạo nghề cho trên 84.000 người (tăng 248,7% so với năm 2007), trong đó cao đẳng nghề 3.500 người, trung cấp nghề 10.000 người, sơ cấp nghề và dạy nghề thường xuyên cho hơn 70.500 người, nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo lên 36%.

Không chỉ tăng về số lượng mà chất lượng đào tạo nghề cũng được nâng lên thông qua trình độ tay nghề của người học nghề, khả năng tiếp cận công việc của học viên sau khi tốt nghiệp. Theo số liệu thống kê từ Sở Lao động – Thương binh và Xã hội, số học viên có việc làm ổn định sau khi tốt nghiệp tại các cơ sở dạy nghề của tỉnh Nghệ An đạt 70 – 75%.

Ngoài ra, Đề án đẩy mạnh xã hội hóa dạy nghề cũng được Nghệ An đặc biệt quan tâm thực hiện, phục vụ nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội địa phương. Đặc biệt là việc thực hiện đơn giản hóa các thủ tục, ưu tiên các cá nhân, tổ chức xã hội thành lập các cơ sở dạy nghề ngoài công lập, có chế độ ưu đãi về thuế, về đất cho các cơ sở này. Chính vì vậy, thời gian gần đây, Nghệ An đã khuyến khích thành lập được 8 trung tâm dạy nghề ngoài công lập và các đơn vị này cũng đã tích cực đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ nhiệm vụ dạy nghề.